Tìm hiểu sự hình thành và phát triển của Thiền phái Lâm Tế Chúc Thánh tại Quảng Nam - Chương 3 SỰ TRUYỀN THỪA VÀ PHÁT TRIỂN CỦA THIỀN PHÁI CHÚC THÁNH TẠI CÁC TỈNH MIỀN TRUNG VÀ NAM VIỆT NAM
gototopgototop
 

CHÙA ĐÔNG HƯNG

Buddhist Education Center

  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size

Tìm hiểu sự hình thành và phát triển của Thiền phái Lâm Tế Chúc Thánh tại Quảng Nam - Chương 3 SỰ TRUYỀN THỪA VÀ PHÁT TRIỂN CỦA THIỀN PHÁI CHÚC THÁNH TẠI CÁC TỈNH MIỀN TRUNG VÀ NAM VIỆT NAM

Email
Chỉ mục bài viết
Tìm hiểu sự hình thành và phát triển của Thiền phái Lâm Tế Chúc Thánh tại Quảng Nam
Chương 1 THIỀN SƯ MINH HẢI VÀ SỰ KHAI SÁNG THIỀN PHÁI LÂM TẾ CHÚC THÁNH
Chương 2 QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA THIỀN PHÁI CHÚC THÁNH TẠI QUẢNG NAM
Chương 3 SỰ TRUYỀN THỪA VÀ PHÁT TRIỂN CỦA THIỀN PHÁI CHÚC THÁNH TẠI CÁC TỈNH MIỀN TRUNG VÀ NAM VIỆT NAM
Tất cả các trang

Kể từ khi Tổ Minh Hải khai dòng pháp thủy tại Tổ đình Chúc Thánh-Hội An, các Tăng đồ thuộc hàng đệ tử và pháp tôn của Ngài đã đem ý chỉ của Tổ truyền bá khắp nơi.  Bên cạnh sự hình thành và phát triển tại Quảng Nam, Thiền phái Chúc Thánh nhanh chóng lan rộng phát triển khắp các tỉnh thành từ Huế vào đến Sài Gòn và lan ra tận hải ngoại vào những thập niên 80 của thế kỷ XX. Từ đó, các Tăng sĩ của dòng Chúc Thánh đã góp phần quan trọng trong sứ mệnh truyền pháp khắp mọi nơi trong và ngoài nước.

3.1 Tỉnh Thừa Thiên - Huế.

Thừa Thiên-Huế tức Thuận Hóa xưa, là kinh đô của các chúa và vua triều Nguyễn trong vòng 4 thế kỷ. Nhắc đến Huế, người ta liên tưởng đến sự cổ kính của cố đô, đồng thời cũng là chiếc nôi của Phật giáo Việt Nam từ trước đến nay. Là kinh đô của một vương triều sùng mộ đạo Phật, Huế đã vinh dự đón nhận bước chân của các bậc cao Tăng đến giảng pháp.

Sự kiện đầu tiên ghi nhận các Thiền sư dòng Chúc Thánh có mặt tại Thuận Hóa là tham dự trai đàn tại chùa Linh Mụ vào năm Minh Mạng thứ 2, tức năm Canh Thìn (1820). Chư tăng tại Quảng Nam ra kinh đô dự đại trai đàn là Hòa thượng chùa Phước Lâm và tăng chúng 20 vị [6, 30]. Vị Hòa thượng ấy là Ngài Minh Giác, một vị cao tăng thuộc thế hệ thứ 3 của dòng Chúc Thánh.

Đến năm Kỷ Sửu (1889), Thiền sư Chơn Kim-Pháp Lâm thuộc đời 40 dòng Lâm Tế Chúc Thánh từ chùa Châu Lâm-Phú Yên ra kinh đô hoằng hóa tại chùa Viên Thông. Chùa Viên Thông do Tổ Liễu Quán khai sơn, truyền đến đời Ngài Tánh Trạm thì không có người kế thừa nên Thiền sư Chơn Kim đảm nhận chức ỉ trụ trì. Từ đây, Thiền phái Chúc Thánh có mặt và phát triển tại Huế. Tuy nhiên, sự phát triển rất khiêm tốn trong sự truyền thừa của chùa Viên Thông. Các Thiền sư tiêu biểu truyền thừa tại đây có Ngài Hoằng Nguyện và Ngài Diệu Khai.

- Hòa thượng Hoằng Nguyện: Ngài người làng Bao La, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa  Thiên, có pháp danh Như Thừa. Ngài kế thừa bổn sư Chơn Kim trụ trì chùa Viên Thông. Ngài có công khai khẩn đất chùa thêm 3 mẫu và cả đời thực hành theo chủ trương “bất tác bất thực” của Tổ Bách Trượng. Vào năm Giáp Tý (1924), Ngài định thiêu thân cúng dường vào ngày Phật Đản mồng 8 tháng 4 nhưng bị Ngài Viên Thành ở Trà Am và Ngài Giác Viên ở Hồng Khê phản đối. Vì thế, Ngài tịch cốc từ mồng mồng 8 tháng 4 đến 15 tháng 5 thì tịch. Đệ tử của Ngài là Thị Bình-Diệu Khai kế thừa trụ trì chùa Viên Thông.

- Hòa thượng Diệu Khai: Ngài pháp danh Thị Bình, sinh ngày 30 tháng 3 năm Mậu Thân (1908) tại làng Nam Phổ Trung, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên. Ngài xuất gia năm lên 7 tuổi tại chùa Viên Thông và kế vị trụ trì chùa vào năm 1924. Ngài theo học kinh luật với Ngài Viên Thành ở Trà Am và học nghi lễ với Tổ Phước Huệ tại Thập Tháp. Ngài có công trùng tu chùa Viên Thông khang trang cho đến ngày hôm nay. Đệ tử nối pháp của Ngài có các Hòa thượng Đồng Chơn-Thông Niệm (khai sơn chùa Bát Nhã-Đà Nẵng), Hòa thượng Đồng Quả-Thiện Phước (thủ chúng chùa Linh Sơn-Đà Lạt). Hiện tại, trụ trì chùa Viên Thông là Hòa thượng Đồng Huy, hiệu Quảng Tú đời 43 Lâm Tế Chúc Thánh.

Vào những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, Thiền sư Ấn Bổn-Vĩnh Gia thường được triều đình thỉnh ra kinh đô thuyết giảng. Đạo hạnh và sự uyên thâm Phật pháp của Ngài đã được cộng đồng tăng lữ đất thần kinh kính ngưỡng và theo thọ pháp. Đặc biệt nhất là giới đàn năm Canh Tuất (1910), số giới tử tại Thừa Thiên-Huế vào Phước Lâm thọ giới với Ngài đều đắc pháp, về sau trở thành những bậc đống lương của Phật giáo Việt Nam thời cận đại. Ngoài Hòa thượng Thích Tịnh Khiết và Thích Giác Nhiên, chúng ta còn biết được một số vị cao Tăng ở Huế thọ pháp với Ngài Vĩnh Gia như: Hòa thượng Giác Viên (khai sơn chùa Hồng Khê); Hòa thượng Chơn Thiệt (chùa Từ Hiếu); Hòa thượng Giác Nguyên (trụ trì chùa Tây Thiên), Hòa thượng Tịnh Hạnh (trụ trì chùa Tường Vân), Hòa thượng Giác Tiên (khai sơn chùa Trúc Lâm) v.v…Các vị này toàn là những bậc long tượng trong nhà Thiền, khiến cho Phật giáo xứ Huế hưng thịnh. Đến năm Mậu Thìn (1928), Hòa thượng Chơn Pháp-Phước Trí khai giới đàn tại chùa Từ Vân -Đà Nẵng, tại Huế có một số giới tử vào cầu pháp, trong đó có Hòa thượng Thích Trí Thủ, một vị cao Tăng thời cận đại, đóng góp rất nhiều công đức cho ngôi nhà Phật giáo Việt Nam.

Tóm lại, sự phát triển của dòng Chúc Thánh tại Thừa Thiên-Huế rất là khiêm tốn, chỉ vỏn vẹn một ngôi chùa Viên Thông. Nhưng  xét về mối tương giao thì các vị cao Tăng ở Huế thời cận đại đều vào thọ giáo và đắc pháp với các Thiền sư dòng Chúc Thánh tại Quảng Nam. Các Hòa thượng  Vĩnh Gia, Phước Trí bằng đạo lực của mình đã tác thành giới thể cho các giới tử, mà về sau trở thành các bậc cao Tăng không những cho xứ Huế mà ảnh hưởng rất lớn đến sự thịnh suy của Phật giáo Việt Nam.

3.2 Tỉnh Quảng Ngãi.

Quảng Ngãi là tỉnh tiếp giáp với Quảng Nam nên sớm đón nhận những Thiền sư của dòng Lâm Tế Chúc Thánh đến hoằng hóa. Hai vị đệ tử Tổ Minh Hải đến Quảng Ngãi đầu tiên là Ngài Thiệt Úy-Chánh Thành-Khánh Vân khai sơn chùa Liên Tôn và Ngài Thiệt Uyên-Chánh Thông-Chí Bảo khai sơn chùa Bảo Lâm. Sau đó, Ngài Khánh Vân lên kế thế trụ trì chùa Thiên Ấn khi Tổ khai sơn là Ngài Phật Bảo-Pháp Hóa viên tịch. Từ đó, Thiên Ấn truyền thừa theo bài kệ của Tổ Minh Hải và trở thành Tổ đình của môn phái Chúc Thánh tại Quảng Ngãi.

Các hàng đệ tử, pháp tôn của các Ngài lần lượt khai sơn các chùa như: Ngài Ấn Tham-Hoằng Phúc (đời 39) khai sơn chùa Quang Lộc; Ngài Ấn Kim-Hoằng Tịnh (đời 39) khai sơn chùa Phước Quang; Ngài Ấn Lãnh-Hoằng Thạc (đời 39) khai sơn chùa Thạch Sơn; Ngài Hoằng Thanh (đời 39) khai sơn chùa Cảnh Tiên; Ngài Chơn Sử-Khánh Tín (đời 40) khai sơn chùa Thọ Sơn; Ngài Chơn Trung-Diệu Quang (đời 40) khai sơn trùng kiến các chùa như Bảo Lâm, Viên Giác, Khánh Vân, Kim Tiên … Ngài Chơn Miên-Trí Hưng (đời 40) khai sơn chùa Từ Lâm, Ngài Như Bình-Giải An (đời 41) khai sơn chùa Từ Quang v.v… Tất cả đã tạo nên một hệ thống các chùa huộc môn phái Chúc Thánh có sự sinh hoạt rất chặt chẽ.

Dòng Lâm Tế Chúc Thánh có những vị cao Tăng góp phần rất lớn trong sự nghiệp hoằng dương Phật pháp tại Quảng Ngãi, tiêu biểu là các vị Tổ sư tại Thiên Ấn như sau:

- Đệ nhị Tổ Thiền sư Khánh Vân: Ngài họ Huỳnh, quê làng Mộ Đức, xuất gia với Tổ Minh Hải, pháp danh Thiệt Úy, tự Chánh Thành, hiệu Khánh Vân. Sau khi khai sơn chùa Liên Tôn tại quê nhà, Ngài được thỉnh kế thế Ngài Phật Bảo-Pháp Hóa trụ trì chùa Thiên Ấn. Từ đây, chùa Thiên Ấn bắt đầu truyền thừa theo dòng kệ của Tổ Minh Hải. Sau hơn 30 năm hoằng dương Phật pháp tại Thiên Ấn, Ngài thị tịch vào ngày mồng 1 tháng 10 năm Quý Tỵ (1773).

- Đệ tam Tổ Thiền sư Bảo Ấn: Ngài họ Trịnh, quê làng Tráng Liệt, quận Tư Nghĩa, húy Toàn Chiếu, tự Trí Minh, hiệu Bảo Ấn, thuộc đời 37 Lâm Tế Chúc Thánh. Ngài đem hết tâm huyết của mình để trùng tu Tổ nghiệp nên thời Ngài tăng chúng tu hành tại Thiên Ấn rất đông. Ngài noi gương Tổ Bách Trượng thành lập nông Thiền với chủ trương “Nhất nhật bất tác, nhất nhật bất thực”. Trong đời Ngài có một truyền thuyết rất là thần kỳ: đó là quả chuông thần . Số là trong một đêm Hòa thượng đang tĩnh tọa tham Thiền, có vị hộ pháp đến thưa Ngài cho người đến làng Chú Tượng, quận Mộ Đức thỉnh đại hồng chung. (Nguyên là làng Chú Tượng có đúc một quả đại hồng chung nhưng đánh không kêu). Sáng ra, Hòa thượng cho thầy Điển tọa đến thỉnh thì hương chức trong làng không đồng ý, phải đến lần thứ hai thì họ mới chấp nhận. Sau khi quả hồng chung về đến chùa, Ngài khấn nguyện tạ Phật và Tổ chức lễ khai chuông. Kỳ lạ thay, khi Ngài cầm dùi đánh thì tiếng chuông ngân vang khắp mọi nơi. Sự kiện này xảy ra vào ngày mồng 10 tháng 4 năm Ất Tỵ (1845), Ngài viên tịch vào ngày 30 tháng 6 năm Bính Dần (1866) sau 40 năm gắn liền với chùa Thiên Ấn.

- Đệ tứ Tổ Thiền sư Giác Tánh: Sau khi Tổ Toàn Chiếu-Bảo Ấn viên tịch, đệ tử là Ngài Chương Khước, tự Tuyên Tôn, hiệu Giác Tánh kế nghiệp trụ trì Thiên Ấn. Ngài noi theo chí nguyện của Bổn sư tiếp tục mở rộng nông Thiền và tiếp tăng độ chúng. Môn hạ của Ngài có nhiều vị thành danh như các vị Hoằng Phúc, Hoằng Thanh, Hoằng Tịnh, Hoằng Thạc v.v… Đạo phong của Ngài đã khiến vị thần cây đến xin quy y và Ngài đã cho pháp danh là “Lãnh sơn Mộc cộng chi thần, pháp danh Ấn Chứng”. Ngài viên tịch vào ngày mồng 1 tháng 3 năm Tân Hợi (1911) với hơn 50 năm hoằng pháp tại Thiên Ấn.

- Đệ ngũ Tổ Thiền sư Hoằng Phúc: Sau khi Tứ Tổ viên tịch, Ngài Hoằng Phúc, trụ trì chùa Quang Lộc được sơn môn cung thỉnh kế nghiệp trụ trì Thiên Ấn. Ngài họ Phạm, người làng Phước Long-Tư Nghĩa, húy Ấn Tham, tự Tổ Văn, hiệu Hoằng Phúc, là đệ tử của Tổ Giác Tánh. Ngài có tâm nguyện sùng hưng chốn Tổ, nhưng Ngài chỉ mới trùng tu được cổng tam quan thì viên tịch ngày 19 tháng chạp năm Giáp Dần (1914), sau 4 năm trụ trì Thiên Ấn.

- Đệ lục Tổ Thiền sư Diệu Quang: Sau khi Ngũ Tổ viên tịch, Thiên Ấn rơi vào tình trạng không có trụ trì. Mãi đến năm Tân Dậu (1921), sơn môn thỉnh Ngài Diệu Quang về trụ trì. Ngài họ Trần, người làng Sung Tích-Sơn Tịnh, là đệ tử của Tổ Hoằng Phúc có pháp danh Chơn Trung, tự Đạo Chí, hiệu Diệu Quang, thuộc đời 40 Lâm Tế Chúc Thánh. Ngài có công làm con đường trôn ốc từ chân núi lên đến chùa. Đạo phong và uy tín của Ngài vang dội, được triều đình sắc phong Tăng cang vào năm Bảo Đại thứ 3. Ngài có công sáng lập và trùng tu nhiều chùa trong tỉnh cũng như đào tạo các thế hệ tăng sĩ kế thừa. Ngài thị tịch vào ngày 13 tháng 2 năm Nhâm Thìn (1952). [2, 17-30]

Tóm lại, kể từ khi có mặt trên đất Quảng Ngãi, các Thiền sư dòng Lâm Tế Chúc Thánh luôn đem hết khả năng của mình để xiển dương Đạo pháp và phục vụ Dân tộc. Sự đóng góp ấy luôn được Tăng Ni Phật tử các thế hệ sau trân trọng ghi nhận và giữ gìn phát triển. Ngày nay, tại Quảng Ngãi phần lớn các chùa đều truyền thừa theo bài kệ của dòng Lâm Tế Chúc Thánh.

3.3 Tỉnh Bình Định.

Bình Định, mảnh đất giữa miền Trung nước Việt, nơi đây đã vinh dự đón nhận những bước chân đầu tiên của vị Tổ sư dòng Lâm Tế đến Đàng Trong hoằng hóa: đó là Nguyên Thiều-Thọ Tôn Hòa thượng. Từ đây, Phật giáo Bình Định khởi sắc bởi tư tưởng phóng khoáng của tông Lâm Tế. Từ cội nguồn đó, dòng Lâm Tế tại Bình Định truyền thừa theo ba bài kệ: Lâm Tế Nguyên Thiều, Lâm Tế Chúc Thánh, Lâm Tế Liễu Quán. Cả ba phái này hòa quyện và bổ túc cho nhau tạo nên một sự ổn định của Phật giáo tỉnh Bình Định từ xưa đến nay.

Các vị Thiền sư đầu tiên của pháp phái Lâm Tế Chúc Thánh đến đất Bình Định là Ngài Thiệt Thuận-Chánh Mạng-Huệ Trường khai sơn chùa Linh Sơn-Phù Cát; Ngài Thiệt Đăng-Chánh Trí-Bửu Quang khai sơn chùa Sơn Long-Quy Nhơn. Cả hai vị đều là đệ tử của Tổ sư Minh Hải, thuộc đời 35 dòng Lâm Tế Chúc Thánh. Tiếp đến, Ngài Pháp Tịnh-Viên Quang, đời 36 Lâm Tế Chúc Thánh (đệ tử Tổ Thiệt Dinh ở Phước Lâm-Hội An) vào khai sơn chùa Thiên Hòa. Đời 37 có các Ngài Toàn Ý-Phổ Huệ khai sơn Chùa Phổ Bảo; Toàn Tín-Đức Thành khai sơn chùa Khánh Lâm (cả hai vị là đệ tử Tổ Pháp Liêm tại Phước Lâm-Hội An); Ngài Toàn Thể-Linh Nguyên khai sơn chùa Long Tường (đệ tử Tổ Pháp Chuyên- Diệu Nghiêm chùa Từ Quang-Phú Yên). Đời 38, các vị đệ tử Tổ Toàn Ý ra khai sơn các chùa như: Ngài Chương Lý-Hoằng Hóa khai sơn chùa Diệu Phong; Chương Hiệp-Chánh Trì khai sơn chùa Huỳnh Long; Chương Thiện-Hoằng Đạo khai sơn chùa Phổ Quang; Chương Hải-Thanh Nguyên khai sơn chùa Thiên Trúc; Chương Trí-Quảng Giác khai sơn Chùa Hưng Khánh v.v.. Từ đó tạo nên một hệ thống các chùa thuộc dòng Chúc Thánh có sự liên hệ sinh hoạt chặt chẽ.

Trong sự truyền thừa của dòng Chúc Thánh tại Bình Định, có những Thiền sư tiêu biểu như sau:

- Thiền sư Liễu Tạng (1784-1866): Ngài sanh năm Giáp Thìn (1784), xuất gia với Tổ Toàn Tín-Đức Thành tại chùa Khánh Lâm có pháp danh Chương Nghĩa, hiệu Liễu Tạng, thuộc đời 38 Thiền phái Lâm Tế Chúc Thánh. Ngài là bậc danh tăng đa văn quảng bác đã soạn cuốn “Thiền Môn Chánh Độ” để làm nghi lễ tế Tăng cang Tổ Ấn-Mật Hoằng thị tịch vào ngày mồng 10 tháng 10 năm Ất Tỵ (1825). Đây là cuốn khoa nghi đầu tiên được soạn để cung tiến Giác linh khi các Thiền sư viên tịch nên có tầm quan trọng đối với giới Tăng lữ tại kinh đô cũng như các tỉnh thành. Với đạo cao đức trọng và sự uyên thâm giáo điển, Ngài được mời ra Phú Xuân giảng dạy, hoằng pháp. Ngài thị tịch mồng 4 tháng 4 năm Bính Dần (1866), thọ 83 tuổi. Nhục thân được lưu giữ tại chùa Quốc Ân-Huế.

- Hòa thượng Trí Hải (1876-1950): Ngài thế danh Nguyễn Trọng Khải, hiệu Mai Đình sinh ngày 16 tháng 3 năm Bính Tý (1876) tại làng Háo Đức, phủ An Nhơn-Bình Định. Thuở nhỏ, Ngài theo Nho học, thi đậu tú tài năm 31 tuổi. Năm 1919, 43 tuổi, Ngài xuất gia với Tổ Ấn Lãnh-Hoằng Thạc tại chùa Thạch Sơn-Quảng Ngãi, có pháp danh Chơn Giám, tự Đạo Quang, hiệu Trí Hải, thuộc đời 40 dòng Lâm Tế Chúc Thánh. Vốn có kiến thức Nho học cộng với sự thông minh mẫn duệ nên Ngài sớm thâm nhập diệu lý của Phật đà. Năm 1931, Ngài được Hòa thượng Khánh Hòa mời làm chủ bút tạp chí Từ Bi Âm  của Hội Nam Kỳ Nghiên Cứu Phật Học. Năm 1934, Ngài khai sơn chùa Bích Liên tại quê nhà. Từ đó mọi người kính ngưỡng đều gọi Ngài là Hòa thượng Bích Liên. Năm 1937, Hội Đà Thành Phật Học tại Quảng Nam Đà Nẵng mời Ngài làm chủ bút tạp chí Tam Bảo. Sau đó, Ngài về chùa nghiên cứu giảng dạy và đã đào tạo nhiều vị Tăng tài cho Phật giáo Việt Nam. Ngài viên tịch vào ngày 3 tháng 6 năm Canh Dần (1950) thọ 75 tuổi. Hòa thượng trước tác rất nhiều, đặc biệt hai bản văn “Quy Sơn Cảnh Sách”“Mông Sơn Thí Thực Khoa Nghi” bằng chữ Nôm đã thể hiện được sự tài hoa của Ngài. [3, 213-217]

- Hòa Thượng Trí Độ (1894-1979): Ngài thế danh Lê Kim Ba (Lê Đinh Ba), sinh ngày 15 tháng 12 năm 1894 tại Phổ Trạch, Tuy Phước-Bình Định. Thuở thiếu thời, Ngài chuyên học Nho và nghiên cứu Phật học. Năm 1935, Ngài được mời làm đốc giáo và giảng dạy tại trường An Nam Phật Học tại chùa Báo Quốc-Huế. Năm 1940, Ngài xuất gia với Tổ Chơn Giám-Trí Hải nên được ban pháp danh là Như Đăng, hiệu Trí Độ, thuộc đời 41 dòng Chúc Thánh. Sau đó, Ngài vào tham học với Hòa thượng Phước Huệ tại Thập Tháp. Năm 1941, Ngài thọ đại giới tại chùa Quốc Ân-Huế. Năm 1945, Ngài tham gia Phật giáo cứu quốc và năm 1946, Ngài được mời ra giảng dạy tại chùa Quán Sứ-Hà Nội. Từ đó, cuộc đời của Ngài gắn liền với những Phật sự tại miền Bắc cho đến ngày viên tịch mồng 4 tháng 1 năm Kỷ Mùi (1979) thọ 86 tuổi. Ngài đã để lại nhiều trước tác và dịch phẩm rất có giá trị về Phật học. [3, 571-578]

Hiện tại, dòng Lâm Tế Chúc Thánh tại Bình Định còn nhiều cây đại thọ chấn sơn môn, là nơi nương tựa của đàn hậu học như: Hòa thượng Như An-Huyền Quang; Thị Huệ-Bảo An, Thị Quảng-Đổng Quán v.v….

3.4 Các tỉnh Phú Yên - Khánh Hòa - Ninh Thuận - Bình Thuận.

Phú Yên từ xưa đến nay vẫn được giới Phật giáo ca ngợi là chốn Tổ. Bởi lẽ, các bậc Tổ sư danh đức phần lớn xuất thân từ đất Phú Yên như Tổ Liễu Quán, Tổ Giác Ngộ, Tổ Toàn Nhật, Tổ Pháp Tạng v.v… Tại Phú Yên, sự truyền thừa chủ yếu là dòng Lâm Tế Liễu Quán và Lâm Tế Chúc Thánh.

Người đầu tiên của dòng Chúc Thánh đến Phú Yên là Thiền sư Pháp Chuyên-Diệu Nghiêm, đời 36 Lâm Tế Chúc Thánh. Sau một thời gian hoằng hóa, Ngài khai sơn chùa Từ Quang-Đá Trắng vào năm Đinh Tỵ (1797). Từ đó, chùa Từ Quang trở thành Tổ đình của dòng Lâm Tế Chúc Thánh tại Phú Yên. Nơi đây là trung tâm đào tạo Tăng tài của các tỉnh miền Trung vào các thế kỷ XVIII, XIX và đầu thế kỷ XX.

Từ Tổ đình Từ Quang, các đệ tử của Ngài Pháp Chuyên khai sơn các chùa trong tỉnh như sau: Ngài Toàn Đức-Thiệu Long khai sơn chùa Khánh Sơn; Ngài Toàn Nghĩa-Chơn Thường khai sơn chùa Thượng Tiên Thọ Vân; Ngài Toàn Nhật-Quang Đài khai sơn chùa Viên Quang; Ngài Liễu Năng-Đức Chất khai sơn chùa Phước Sơn; Ngài Liễu Diệu-Chánh Quang khai sơn chùa Triều Tôn v.v..Từ đó, dòng Chúc Thánh hưng thịnh tại Phú Yên và liên tục phát triển vào các tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận.

Tại Phú Yên, dòng Chúc Thánh có những vị Thiền sư nổi tiếng như :

- Thiền sư Diệu Nghiêm (1738-1810): Ngài họ Trần, sinh ngày 2 tháng 4 năm Mậu Ngọ (1738) tại làng Cổ Tháp, phủ Thăng Hoa, nay là xã Duy Châu-Duy Xuyên-Quảng Nam. Ngài vốn thông minh đỉnh tuệ, thi đậu tú tài khi 18 tuổi và ra làm quan dưới triều chúa Nguyễn Phúc Khoát. Sau khi xem tuồng “Tam Trinh Cố Sự” và “Long Hổ Sự Duyên”, Ngài ngộ lẽ vô thường ảo hóa của kiếp người nên quyết chí xuất gia. Ngài đến chùa Phước Lâm-Hội An lạy Tổ Ân Triêm làm thầy và được Tổ cho pháp danh Pháp Chuyên, tự Luật Truyền, hiệu Diệu Nghiêm, nối pháp đời 36 dòng Lâm Tế Chúc Thánh. Từ đó, Ngài tinh cần học đạo, nổ lực hành trì tu tập. Về sau, Ngài đến chùa Thập Tháp-Quy Nhơn theo học với Ngài Liễu Triệt, đồng thời đọc hết bộ Đại Tạng do Tổng trấn Hà Tiên Mạc Cửu hiến cúng. Vào một đêm, sau khi đọc kinh Hoa Nghiêm, Ngài thấy lòng tỏ ngộ nên phát nguyện: “Phàm gặp người bất luận nam nữ, già trẻ, sang hèn thảy đều giáo hóa quy kính Tam Bảo, niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ”. Từ đó, Ngài giáo hóa khắp các vùng từ Quảng Nam vào đến Phú Yên. Mãi đến năm Đinh Tỵ (1797), Ngài mới khai sơn chùa Từ Quang. Thiền sư Pháp Chuyên là người đa văn quảng bác, Ngài trước tác rất nhiều kinh luận, đặc biệt nhất là bộ Tam Bảo Hoặc Luận. Ngài viên tịch vào ngày 17 tháng 6 năm Canh Ngọ (1810) thọ 73 tuổi. [4, 93-97]

- Thiền sư Toàn Nhật: Cho đến nay, chúng ta vẫn chưa biết rõ quê quán, năm sinh, năm mất cũng như tên thật của Thiền sư Toàn Nhật. Theo tác phẩm “Tam giáo nguyên lưu ký”, Thiền sư nói rằng:

“Ta xưa cũng dự Nho gia

Mười hai tuổi học đến ba mươi  rày…

..Sau ta đầu học phép Thiền

Thuở ba mươi tuổi vậy liền xuất gia.”

Như vậy, ban đầu Ngài học Nho nhưng nhận thấy Nho gia không giải quyết được nổi đau sanh tử nên quy y đầu Phật. Năm 30 tuổi, Ngài xuất gia với Tổ Pháp Chuyên tại chùa Từ Quang nên có pháp danh Toàn Nhật, tự Vi Minh, hiệu Quang Đài, thuộc đời 37 Lâm Tế Chúc Thánh. Được một vị minh sư như Ngài Pháp Chuyên hướng dẫn, Ngài Toàn Nhật đã ngộ đạo sau 12 năm tu hành, sau đó về trụ trì chùa Viên Quang. Tại đây, Ngài đã biên soạn, san định, giảo chính trên 20 tác phẩm kinh luận bằng chữ Nôm. Ngài là một trong những vị để lại nhiều tác phẩm bằng chữ Nôm nhất. [4, 148-149]

- Thiền sư Pháp Tạng: Ngài là đệ tử của Thiền sư Ấn Thiên-Huệ Nhãn, đệ tứ Tổ tại Tổ đình Phước Sơn-Đồng Tròn nên có pháp danh là Chơn Chánh, tự Đạo Tâm, hiệu Pháp Tạng, thuộc đời 40 Lâm Tế Chúc Thánh. Ngài kế vị bổn sư trụ trì Phước Sơn với tâm nguyện tiếp tăng độ chúng. Đạo hạnh của Ngài đã được sơn môn Chúc Thánh thỉnh làm Yết Ma cho giới đàn năm Quý Tỵ (1893) tại Tổ đình Chúc Thánh-Hội An. Năm Giáp Ngọ (1894), Ngài được triều đình mời ra kinh đô làm thủ gia trì chẩn tế đại khoa tại chùa Kim Quang-Huế. Sau khi hạ đàn, vua Thành Thái đến ôm hôn khen ngợi và ban cho đồng kim tiền, một ca sa và một mũ quan âm. Các năm 1906 và 1907, Ngài khai đàn giới tại chùa Từ Quang và Phước Sơn để thí giới cho tăng tục xa gần, độ người vô lượng. Đệ tử của Ngài có các vị nổi danh như Thiền Phương, Thiền Cơ, Thiền Tâm, Cơ Trụ v.v… [4, 75]. Đặc biệt là Ngài Như Đắc-Thiền Phương có công đào tạo nhiều vị cao tăng cho Phật giáo Việt Nam thời hiện đại như các Ngài Thị Chí-Phước Hộ; Thị An-Phước Bình; Thị Tín- Phước Trí; Thị Niệm-Phước Ninh v.v..

Hiện nay, dòng Chúc Thánh tại Phú Yên đã truyền xuống đến chữ Đồng, chữ Chúc. Tuy nhiên, đã qua rồi thế hệ các bậc long tượng nên sự sinh hoạt của môn phái  nơi đây rời rạc hơn so với các tỉnh thành khác.

3.5 Tại Sài Gòn - Gia Định và các tỉnh miền Nam.

Miền Nam, mảnh đất cuối cùng ở phía Nam được sáp nhập vào bản đồ Đại Việt. Đây là thành quả tất yếu của cuộc trường kỳ Nam tiến trải dài gần 10 thế kỷ. Tuy nhiên, số lượng người Việt di cư đến vùng đất mới này nhiều nhất là vào thời các chúa Nguyễn. Theo bước chân những người Nam tiến, các Thiền sư dòng Chúc Thánh cũng đã có mặt đáp ứng nhu cầu tu học của quần chúng Phật tử.

Xét về sự truyền thừa và phát triển của dòng Chúc Thánh tại miền Nam, ta có thể chia làm hai giai đoạn: giai đoạn đầu từ thế kỷ XVIII đến cuối thế kỷ XIX; giai đoạn kế từ đầu cho đến cuối thế kỷ XX.

a.Giai đoạn đầu:

Những năm cuối thế kỷ XVIII, chúng ta đã thấy sự có mặt của các Thiền sư dòng Chúc Thánh tại miền Nam. Đó là Thiền sư Gia Lành và Gia Linh, thuộc đời 37 Lâm Tế Chúc Thánh đến tỉnh Bình Dương khai sơn chùa Thiên Tôn. Sau khi hai vị Thiền sư này qua đời, đệ tử của Ngài Gia Linh là Ngài Chương Phụng- Nhơn Lịch kế thừa trụ trì chùa. Cùng thời gian này, Thiền sư Toàn Tánh-Chánh Đắc đời 37 Lâm Tế Chúc Thánh từ chùa Tập Phước-Gia Định về trụ trì chùa Hội Khánh-Bình Dương năm 1839.

Như vậy, đến cuối thế kỷ 18, tại miền Nam đã có 3 ngôi chùa lớn truyền theo bài kệ của Tổ Minh Hải. Đó là chùa Tập Phước tại Gia Định và chùa Thiên Tôn, Hội Khánh tại Bình Dương. Cả hai ngôi chùa Tập Phước và Thiên Tôn có công giúp đỡ vua Gia Long trong giai đoạn bôn tẩu nên sau khi lên ngôi, vua Gia Long ban sắc tứ để thưởng công.

Từ chùa Thiên Tôn và Hội Khánh, các đệ tử đã ra khai sơn các chùa Tây Tạng, Thiên Chơn, Phước Thạnh, Bình Long v.v..nên hệ thống các chùa thuộc dòng Chúc Thánh nhanh chóng phát triển tại tỉnh Bình Dương. Trong sự truyền thừa tại đây, nổi tiếng nhất là Hòa thượng Từ Văn và Hòa thượng Minh Tịnh.

- Hòa thượng Từ Văn (1877-1931): Ngài thế danh Nguyễn Văn Tầm sinh năm Đinh Dậu (1877) tại làng Phú Cường, Thủ Dầu Một. Ngài xuất gia năm lên 10 tuổi với Tổ Ấn Long-Thiện Quới tại chùa Hội Khánh nên có pháp danh Chơn Thanh, hiệu Từ Văn, thuộc đời 40 dòng Lâm Tế Chúc Thánh. Ngài là bậc cao tăng của miền Nam nên được chính phủ Pháp mời sang Marseille Tổ chức lễ kỳ siêu cho những người Việt đi lính Pháp chết trận vào năm 1920. Ngài có công đào tạo nhiều vị Tăng tài cho Phật giáo miền Nam. Ngài viên tịch vào tháng 11 năm 1931, nhục thân được tôn thờ trong khuôn viên Tổ đình Hội Khánh.[19, 25]

- Hòa thượng Minh Tịnh (1889-1951): Ngài thế danh Nguyễn Tấn Tạo, sinh năm 1889 tại làng An Thạnh, quận Lái Thiêu, tỉnh Bình Dương. Năm 16 tuổi xuất gia với Hòa thượng Ấn Thành-Từ Thiện tại chùa Thiên Tôn với pháp danh Chơn Phổ-Nhẫn Tế, thuộc đời 40 dòng Lâm Tế Chúc Thánh. Còn pháp danh Minh Tịnh là do Ngài cầu pháp với Tổ Tuệ Đăng tại chùa Thiên Thai-Vũng Tàu. Năm 1935, Ngài một mình hành hương chiêm bái Ấn Độ và Tây Tạng. Sau 2 năm chiêm bái, tu học mật giáo tại Tây Tạng và Ấn Độ, Ngài trở về Việt Nam mang theo Xá Lợi Phật về tôn thờ tại chùa Thiên Chơn. Năm 1945, Ngài được cử làm Chủ tịch Hội Phật Giáo Cứu Quốc Thủ Dầu Một. Ngài viên tịch vào ngày 17 tháng 5 năm 1951, nhục thân được tôn thờ tại chùa Thiên Chơn. Hòa thượng biên dịch để lại hai tác phẩm rất có giá trị là Nhật Ký Tây Tạng và Lăng Nghiêm Tông Thông. [19, 41]

b. Giai đoạn 2:

Đầu những năm thế kỷ XX, một số lượng lớn chư Tăng thuộc các tỉnh miền Trung vào Nam hoằng pháp. Có lẽ mảnh đất mới miền Nam trẻ trung có nhiều điều kiện thuận lợi hơn cho việc tu học nên chư Tăng vào Nam rất nhiều. Trong trào lưu đó, chư tăng thuộc dòng Chúc Thánh tại các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên vào miền Nam tu học và chủ yếu là tại thành phố Sài Gòn. Từ đó, các chùa của môn phái Chúc Thánh được thành lập như sau:

Chư tăng thuộc Quảng Nam ban đầu vào ngụ tại chùa Văn Thánh (Quận Bình Thạnh) và Hưng Long (Quận 10), về sau các chùa Bửu Đà (Quận 10), Pháp Hoa (Quận Phú Nhuận), Giác Quang (Quận 4), Viên Thông (Quận 11), Từ Minh (Quận 3), Bảo Tịnh (Quận Bình Thạnh) v.v… lần lần được thành lập, tạo thành một chi phái Chúc Thánh Quảng Nam tại Sài Gòn.

Chư tăng thuộc Quảng Ngãi, tiêu biểu là Ngài Khánh Anh vào trụ tại chùa Phước Hậu-Trà Vinh. Tại Sài Gòn, có các chùa Thiền Lâm (Quận 6), Phổ Đà Sơn (Quận 8), Đức Quang (Quận 4), Liên Hoa (Quận 4), Tân Long (Quận 7), Vĩnh Đức (Quận 2) v.v.., tạo thành chi phái Chúc Thánh Quảng Ngãi tại Sài Gòn.

Chư tăng thuộc tỉnh Bình Định vào lập chùa Giác Uyển (Quận Phú Nhuận), Giác Hoa (Quận Bình Thạnh), Phật Quang (Quận 10) v.v.

Chư tăng thuộc tỉnh Phú Yên mà nổi tiếng nhất là Hòa thượng Quảng Đức và Hòa thượng Hành Trụ vào lập chùa Quan Thế Âm (Quận Phú Nhuận), Giác Nguyên, Kim Liên (Quận 4), Đông Hưng, Thiền Tịnh, Từ Phong (Quận 2) v.v…

Như vậy, từ đầu cho đến giữa thế kỷ XX, số lượng chư Tăng thuộc dòng Lâm Tế Chúc Thánh tại các tỉnh miền Trung vào tu học và hoằng pháp tại thành phố Sài Gòn có số lượng khá đông. Hệ thống các chùa truyền thừa theo bài kệ của Tổ Minh Hải ngày một nhiều. Tuy nhiên, nổi bậc nhất là quý Hòa thượng Khánh Anh, Hòa thượng Quảng Đức, Hòa thượng Hành Trụ đóng góp rất nhiều công đức cho ngôi nhà Phật giáo Việt Nam.

- Hòa thượng Khánh Anh (1895-1961): Ngài thế danh Võ Hóa, sinh năm Ất Mùi (1895) tại xã Phổ Nhì, Tổng Lại Đức, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi. Năm 21 tuổi, Ngài xuất gia với Tổ Hoằng Thanh tại chùa Cảnh Tiên và nhập chúng tu học với Hòa thượng Hoằng Phúc tại chùa Quang Lộc nên có pháp danh Chơn Húy, hiệu Khánh Anh, thuộc đời 40 dòng Lâm Tế Chúc Thánh. Vốn tính sẵn thông minh nên Ngài thông thuộc kinh, luật và trở thành giảng sư nổi tiếng năm 30 tuổi. Năm 1927, Ngài được mời vào Nam giảng pháp và lãnh đạo Hội Lưỡng Xuyên Phật Học, giảng dạy cho Tăng Ni cũng như cộng tác cho tạp chí Duy Tâm. Năm 1955, Ngài chứng minh cho Hội Phật Học Nam Việt. Năm 1957, Ngài được suy cử làm Thượng Thủ Giáo Hội Tăng Già Nam Việt. Ngày 30 tháng Giêng năm Tân Sửu (1961), Ngài thị tịch với 45 năm cống hiến hết mình cho đạo và thọ 66 tuổi. Ngài trước tác rất nhiều kinh luận, trong đó nổi tiếng nhất là bộ Khánh Anh Văn Sao 3 tập rất có giá trị. Ngài có công đào tạo nhiều vị tăng tài cho Phật giáo Việt Nam như Hòa thượng Thiện Hoa, Hòa thượng Hoàn Quan v.v.. Pháp tôn của Ngài là Hòa thượng Thanh Từ, người có nhiều công đức trong việc khôi phục Thiền tông Việt Nam trong thời hiện đại. [3, 303-307]

- Hòa thượng Quảng Đức (1897-1963): Ngài thế danh Lâm Văn Tuất, sinh năm Đinh Dậu (1897) tại thôn Hội Khánh, xã Vạn Khánh, huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa. Ngài xuất gia năm lên 7 tuổi với Hòa thượng Hoằng Thâm nên có pháp danh Thị Thủy, tự Hành Pháp, hiệu Quảng Đức thuộc đời 42 dòng Lâm Tế Chúc Thánh. Ngài có tâm nguyện vân du hoằng pháp, gặp nơi nào chùa tháp hư hoại thì Ngài dừng lại trùng tu, kiến tạo rồi lại lên đường. Đời Ngài đã trùng tu cả thảy 17 ngôi chùa và chùa Quan Thế Âm tại quận Phú Nhuận là nơi dừng chân cuối cùng của Ngài. Năm 1963, Phật giáo đồ miền Nam và Trung bị sự đàn áp của chế độ gia đình trị Ngô Đình Diệm. Trước sự đàn áp dã man đó, Ngài phát nguyện tự thiêu vào ngày 20 tháng 4 năm Quý Mão (11/6/1963) để ngăn cản bạo quyền. Sự hy sinh cao cả của Ngài đã cứu nguy cho Phật giáo Việt nam thoát khỏi pháp nạn tàn khốc này. Với tâm nguyện ấy, trái tim của Ngài không bị thiêu hủy dưới sức nóng 4000 độ của lò thiêu. Ngài được Tăng Ni Phật tử cả nước tôn xưng là bậc Bồ tát hiện thế. [3, 335-342]

- Hòa thượng Hành Trụ (1904-1984): Ngài thế danh Lê An, sinh năm 1904 tại làng Phương Lưu, huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên. Ngài xuất gia với Tổ Thiền Phương tại chùa Phước Sơn nên có pháp danh Thị An, tự Hành Trụ, hiệu Phước Bình, thuộc đời 41 dòng Lâm Tế Chúc Thánh. Là người học Phật uyên bác nên Ngài sớm làm giáo thọ tại các chùa tỉnh Phú Yên. Ngài có công kiến tạo nhiều ngôi chùa tại Sài Gòn và làm giáo thọ các trường Phật học khắp miền Nam. Ngài nhiều lần được cung thỉnh làm Hòa thượng đàn đầu truyền trao giới pháp cho Tăng Ni. Trải qua các Giáo hội, Ngài đều được cung thỉnh vào Hội đồng trưởng lão chứng minh tiêu biểu cho giới luật. Ngài thị tịch tại chùa Đông hưng vào ngày 29 tháng 10 năm Giáp Tý (1984) thọ 81 tuổi. Ngài trước tác rất nhiều kinh sách nhưng chủ yếu là luật học. [3, 710-714]

Như vậy, tại Sài Gòn và các tỉnh miền Nam hiện tại dòng Chúc Thánh được truyền bá rất rộng rãi. Chư Tăng thuộc các tỉnh miền Trung vẫn trung thành với bài kệ truyền pháp của Tổ. Hiện nay, các ngôi Tổ đình xưa của dòng Chúc Thánh tại miền Nam như Tập Phước, Hội Khánh không còn truyền theo kệ của Tổ Minh Hải. Bởi lẽ, người miền Nam rất phóng khoáng, không câu nệ chấp chặt hệ phái. Điều này, cũng thật là đáng tiếc, vì nó làm mất đi truyền thống bao đời của chư Tổ. Có một điểm đặc biệt, khi truyền vào miền Nam trong giai đoạn đầu, ta thấy các Thiền sư chỉ truyền pháp danh chứ không có pháp tự. Ví dụ như Thiền sư Toàn Tánh có hiệu là Chánh Đắc, chứ không có pháp tự chữ Vi như các vị đồng hàng ở miền Trung. Cũng vậy, các vị Chơn Thanh hiệu Từ Văn, Chơn Phổ hiệu Nhẫn Tế cũng không có pháp tự chữ Đạo theo như bài kệ truyền pháp tự của Tổ sư Minh Hải.

3.6 Tại hải ngoại:

Chuông vẳng nơi nao nhớ lạ lùng

Ra đi ai chẳng nhớ chùa chung

Mái chùa che chở hồn Dân tộc

Nếp sống muôn đời của Tổ tông.

Huyền Không

Phật giáo và Dân tộc đồng hành, đây là một quy luật bất di bất dịch từ 2000 năm nay. Dân Việt đi đến đâu thì Phật Việt theo đến đó. Theo để mà an ủi vỗ về trong những lúc gian nan lận đận.

Vào những thập niên 70-80 của thế kỷ XX, một số lượng lớn người Việt ra nước ngoài định cư. Người Việt rời Tổ quốc ra đi với hàng nghìn lý do, nhưng Phật Việt ra hải ngoại chỉ một lý do duy nhất: hướng đạo tinh thần cho người Việt xa xứ và truyền bá giáo lý Phật Đà tại Tây phương. Tuy nhiên, cộng đồng người Việt chỉ tập trung chính ở các nước thuộc Châu Âu, Mỹ và Châu Úc.

Theo dòng người định cư tại hải ngoại, con cháu của Tổ Minh Hải cũng đã có mặt khắp các châu lục để đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng cũng như ấp ủ chở che cho những người Việt lưu lạc.

Ở Châu Âu, chùa Viên Giác tại Đức là đạo tràng lớn nhất truyền thừa theo dòng Chúc Thánh. Thượng tọa Thích Như Điển thuộc đời 41 dòng Lâm Tế Chúc Thánh sau 6 năm du học tại Nhật đã sang Đức vào năm 1978 để hoằng pháp. Sau 20 năm hành đạo, Thượng tọa đã đào tạo được một đội ngũ Tăng trẻ đủ khả năng gánh vác Phật sự tại các chi hội Phật giáo Châu Âu và Thượng tọa đã thành lập một hệ thống các chùa trực thuộc tông Lâm Tế Chúc Thánh như Viên Ý (Italy), Vạn Hạnh (Đan Mạch), Viên Âm, Tam Bảo (Đức), Niệm Phật đường Thảo Đường (Nga), Trung tâm tu học Viên Giác tại Bồ Đề Đạo Tràng - Ấn Độ.

Năm 1975, Hòa thượng Như Kế-Huyền Vi đời 41 Lâm Tế Chúc Thánh cũng đã đến Pháp lập chùa Linh Sơn tại thủ đô Paris. Sau đó, Ngài sáng lập và làm Tăng Thống  Giáo Hội Linh Sơn trên khắp các nước Châu Âu và Châu Mỹ.

Cũng trong giai đoạn này, người Việt sang định cư tại Mỹ rất đông. Trong đó, số lượng Tăng sĩ thuộc các Thiền phái đều có mặt tại Mỹ để hoằng pháp. Trong tăng đoàn ấy, có Hòa thượng Chơn Điền, đời 40 Lâm Tế Chúc Thánh sang bang Texas lập chùa Quan Âm; Hòa thượng Thông Đạt-Thanh An, đời 43 Lâm Tế Chúc Thánh lập An Tường Tự Viện ở bang Oakland; Thượng tọa Hạnh Đạo, đời 42 Lâm Tế Chúc Thánh lập chùa Phổ Đà tại bang California; Thượng tọa Đồng Điển-Thông Kinh đời 43 Lâm Tế Chúc Thánh lập chùa Đông Hưng tại bang Virginia. Tất cả quý Ngài cũng không ngoài tâm nguyện phục vụ cho cộng đồng người Việt xa xứ.

Tại Châu Úc, Hòa thượng Như Huệ, thuộc đời 41 Lâm Tế Chúc Thánh  từ Việt Nam sang lập chùa Pháp Hoa tại Nam Úc vào năm 1982, sau đó Hòa thượng lại tiếp tục khai sơn chùa Pháp Âm để Phật tử có nơi chiêm bái, tu tập. Cùng thời gian, Hòa thượng Đồng An-Bảo Lạc đời 43 Lâm Tế Chúc Thánh sau khi tốt nghiệp Tiến sĩ tại Nhật Bản đã đến Úc lập chùa Pháp Bảo tại Sydney. Hòa thượng có công rất nhiều trong việc phiên dịch các kinh điển từ Hán sang Việt. Bên cạnh đó, Thượng tọa Như Mẫn-An Thiên, đời 41 Lâm Tế Chúc Thánh sau khi tốt nghiệp Tiến sĩ Phật học tại Nhật đã sang Úc cộng tác với Hòa thượng Bảo Lạc từ năm 1991. Đến năm 1996, thấy nhân duyên hội đủ nên Ngài ra lập chùa Minh Giác tại Cabramatta, Thượng tọa Như Định đời 41 Lâm Tế Chúc Thánh lập chùa Thiên Ấn v.v…

Như vậy, số lượng Tăng sĩ thuộc dòng Chúc Thánh sang hoằng pháp tại hải ngoại không phải là ít. Các Ngài bằng hết tâm lực của mình đã kiến tạo chùa chiền nơi xứ người. Tuy rằng những ngôi chùa Việt tại hải ngoại không có mái cong vút, khung cảnh không có thâm u như những ngôi chùa trong nước nhưng cũng đã hoàn thành sứ mệnh cao cả của mình: che chở một phần hồn Dân tộc viễn xứ trong những mùa đông lạnh buốt.

C. KẾT LUẬN

Chim bay không cầm  bóng

Nước trôi chẳng giữ  màu

Phất phơ vài lá trúc

Như gió thoảng vườn sau!

Từ xưa đến nay, chư vị Tổ sư như cánh nhạn lưng trời bay qua dòng sông đâu có ý niệm lưu hình giữ bóng. Với sự liễu triệt ý đạo thâm huyền, thấy rõ thực tướng các pháp nào có đến có đi thì các Ngài có gì để lưu lại. Tuy nhiên, đứng về mặt tục đế, người viết còn thấy các Ngài đã đến, đã hiện hữu, đã đi nên mạo muội ngược dòng lịch sử trở về quá khứ, phủi dần lớp bụi thời gian để tìm lại những vết chân xưa của các bậc cổ đức, từ đó hiểu rõ hơn công hạnh của tiền nhân. Trong quá trình “Tìm hiểu sự hình thành và phát triển của Thiền phái Lâm Tế Chúc Thánh tại Quảng Nam”, chúng ta tạm có những nhận định như sau:

- Thiền sư Minh Hải là vị Tổ đầu tiên truyền bá dòng Thiền Lâm Tế tại Quảng Nam. Bằng sự chứng ngộ của mình, Tổ sư Minh Hải đã xuất kệ truyền thừa, lập nên một Thiền phái lớn trong lịch sử Phật giáo Việt Nam. Với tư tưởng “Đắc chánh luật vi tông”, Ngài đã đặt một nền tảng căn bản cho sự phát triển của tông môn. Nền tảng này là nguồn cội của tất cả các thiện pháp, Nhân thừa, Thiên thừa, Phật thừa do đây mà thành tựu. Trong bối cảnh đất Quảng Nam đang thiếu một bậc tôn sư hướng đạo, Tổ Minh Hải đã đến đúng lúc, đã đáp ứng được tâm nguyện của tín đồ quần chúng. Vì thế, hạt giống Bồ Đề Ngài gieo cách đây 300 năm giờ đã sum suê cành lá. Đồng thời, qua đây ta có thể kết luận rằng: Tổ sư Minh Hải không phải là đệ tử của Tổ Nguyên Thiều và Ngài cũng không phải là người khai sơn Tổ đình Thiên Ấn tại Quảng Ngãi.

- Kể từ ngày Tổ sư Minh Hải chấn tích khai sơn, các đệ tử của Ngài đã kế thừa xứng đáng sự nghiệp của Thầy Tổ nên môn phong Chúc Thánh nhanh chóng hình thành và phát triển. Cho đến cuối thế kỷ XVIII, các Thiền sư dòng Chúc Thánh đã đóng vai trò chủ đạo trong việc truyền pháp tại Quảng Nam, khiến cho Phật giáo tại nơi đây sớm ổn định và phát triển rực rỡ. Các Tổ đình Chúc Thánh, Phước Lâm, Tam Thai v.v… trở thành những trung tâm hoằng pháp chính tại Quảng Nam. Từ những Tổ đình này, các vị Tổ sư dòng Chúc Thánh đã đào tạo nhiều thế hệ “Như Lai Sứ Giả” đem tư tưởng của Tổ cũng như Pháp kệ truyền bá rộng rãi từ đất Quảng  vào đến các tỉnh miền Nam,

- Sự phóng khoáng của tư tưởng Lâm Tế kết hợp với bản tính cương trực thực thà của người dân đất Quảng đã tạo nên một phong cách sống rất đặc thù của tu sĩ Quảng Nam: giản dị, gần gũi với tầng lớp bình dân lao động nhưng cương cường bất khuất trước những ai đi ngược với quyền lợi của Đạo pháp và Dân tộc. Do thấm nhuần tư tưởng “Phật pháp bất ly thế gian giác” và hiểu rõ mối tương quan khắng khít giữa Đạo pháp và Dân tộc, tăng sĩ Quảng Nam đã dấn thân vào các phong trào đấu tranh đòi độc lập Tổ quốc, tự do cho Dân tộc và Đạo pháp, thể hiện được sứ mệnh “Hộ quốc an dân” của những người con Phật Việt.

- Với chất giọng Quảng hòa âm cùng làn điệu dân gian, các Thiền sư dòng Chúc Thánh đã tạo nên một nghi lễ đặc thù của Phật giáo xứ Quảng. Các điệu hò niệm Phật, các khoa nghi Bạt độ vớt vong, chèo đò tống linh v.v…đã an ủi vỗ về những số phận bất hạnh trong niềm tin tôn giáo và đây cũng là phương tiện thiết thực đưa mọi người vào đạo để hướng tâm đến sự giải thoát an lạc. Tất cả những nét đặc thù của Phật giáo Quảng Nam được thể hiện qua sự tu tập, hành đạo của chư Tổ cũng như chư tôn Hòa thượng cận đại của dòng Chúc Thánh.

- Theo bước chân Nam tiến của Dân tộc, các Thiền sư dòng Lâm Tế Chúc Thánh có mặt tại các tỉnh thành trong cả nước để truyền bá giáo lý giải thoát của Phật Đà và ý chỉ Tổ sư. Tại mỗi địa phương đi đến, các Ngài đã đem hết khả năng của mình để giáo hóa và dần dần tạo nên chi phái khắp các mọi nơi. Tăng đồ của Thiền phái Chúc Thánh đóng vai trò quan trọng trong việc hoằng pháp tại các tỉnh thành từ Thừa Thiên-Huế đến Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Sài Gòn-Gia Định v.v….Ngày nay, theo bước chân người Việt xa xứ, Tăng nhân Chúc Thánh có mặt khắp các Châu Lục để làm tròn sứ mệnh “Che chở hồn Dân tộc” của mình, góp phần đem ánh sáng Chánh pháp cũng như giới thiệu 2000 năm lịch sử thăng trầm truyền bá Phật giáo Việt Nam đến với các nước phương Tây

- Trải qua 300 năm hình thành và phát triển, Tăng đồ của Thiền phái Chúc Thánh góp phần rất lớn trong sự nghiệp truyền bá chánh pháp tại nước nhà. Các Thiền sư Thiệt Dinh, Pháp Liêm, Pháp Chuyên, Toàn Nhật, Vĩnh Gia, Từ Trí v.v…đều là những bậc Cao Tăng có sự ảnh hưởng rất lớn đối với Phật giáo Việt Nam qua các thời đại. Mỗi vị có một hạnh nguyện riêng biệt để hoằng pháp độ sanh: Ngài Pháp Liêm-Luật Oai  với hạnh nguyện Bồ Tát ròng rã 20 năm quét chợ không quản nắng mưa, Ngài Pháp Chuyên-Luật Truyền, Ngài Toàn Nhật- Vi Bảo với trí tuệ siêu việt đã trước tác nhiều tác phẩm Phật học có giá trị lưu lại hậu thế, Ngài Ấn Bổn - Vĩnh Gia có công rất lớn trong việc đào tạo Tăng tài thời cận đại v.v… tất cả đã viết nên trang lịch sử vàng son cho môn phái. Đặc biệt, ngọn lửa “Đại Hùng Lực, Đại Từ bi” của Ngài Thị Thủy-Quảng Đức năm 1963 đã góp phần không nhỏ trong việc đưa Phật giáo và Dân tộc thoát khỏi một thời kỳ độc tài hà khắc. Ngọn lửa thiêng ấy chính là đỉnh cao, là kết tinh của tinh thần phụng sự Đạo pháp và Dân tộc của tăng nhân dòng Chúc Thánh.

Hiện tại, chư  Tăng dòng Lâm Tế Chúc Thánh chiếm một lượng lớn và đóng góp không nhỏ trong ngôi nhà Phật giáo Việt Nam. Với một bề dày truyền thừa, phát triển và có những đóng góp lớn lao như thế, nhưng các nhà viết sử Phật giáo Việt Nam lại lãng quên thì thật là thiếu sót. Trong quá trình tìm hiểu về lịch sử dòng Lâm Tế Chúc Thánh, người viết gặp rất nhiều trở ngại về nguồn tư liệu nghiên cứu. Từ đây, người viết mới phần nào hiểu được sự khó khăn của các nhà làm sử Phật giáo khi đề cập đến sự truyền thừa của Thiền phái Chúc Thánh. Tuy nhiên, không phải vì sự khó khăn trong vấn đề tư liệu mà chúng ta bỏ cuộc, cứ để lịch sử mãi trôi dần về quá khứ và bị phong kín bởi cánh cửa thời gian.

Ngày nay, dòng Lâm Tế Chúc Thánh đã truyền xuống đến đời 44, 45, 46 nghĩa là đã xuống đến chữ Chúc, chữ Thánh, chữ Thọ hoặc chữ Vạn, chữ Hữu, chữ Duy (theo bài kệ tại Bình Định). Điều này là một minh chứng cụ thể cho sự phát triển của môn phái Chúc Thánh. Mỗi khi truyền xuống một đời là báo hiệu cho sự cách biệt một khoảng thời gian giữa các thế hệ. Vì thế, qua đây người viết tha thiết mong rằng chư vị tôn túc trong môn phái nên có một chương trình cụ thể viết về lịch sử truyền bá của Thiền phái Chúc Thánh để các thế hệ hậu bối sau này được tường tận và nối tiếp truyền thống tông môn. Như lời các bậc cổ đức có nói: “Vô cổ bất thành kim”, không có xưa thì không có nay, nếu không hiểu tường tận quá khứ của cha ông thì tương lai con cháu sẽ không có một định hướng rõ ràng cho sự phát triển của mình.

Trong quá trình thực hiện đề tài, con đã được chư vị tôn túc trong và ngoài môn phái thuộc các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên và Sài Gòn tận tình chỉ dạy, góp ý, cung cấp tư liệu để bản luận văn sớm được hoàn thành. Qua đây, con xin dâng lời tri ân đối với những tình cảm nồng nàn chân thiết của chư vị tôn túc. Tuy nhiên, với thời gian có hạn, kiến thức còn hạn hẹp và kinh nghiệm khảo cứu còn non yếu nên người viết không làm sao tránh khỏi những sai sót, mong rằng chư vị Tôn Túc cũng như các bậc thiện hữu tri thức hoan hỷ chỉ dạy để trong tương lai chúng con đi sâu nghiên cứu vấn đề này được tường tận và chuẩn xác hơn.

 

Thích Giải Nghiêm



 

TÌM KIẾM

HÌNH ẢNH SINH HOẠT

Lễ hội Quan Âm Album 1

Lễ Phật Đản 2014 , Album 2

"Thưa quý độc giả, hiện tại trang web đang 

được chỉnh sửa để cập nhật phiên bản mới.

Rất mong quý vị thông cảm cho những thay

thay đổi trên trang nhà." BBT

Bài mới đăng


CÚNG DƯỜNG TAM BẢO

CHƯƠNG TRÌNH SINH HOẠT

LỊCH SINH HOẠT PHẬT SỰ - 2014 

HÀNG TUẦN

Chủ nhật

10.30 am - 12.30pm: Khóa lễ tụng kinh, thuyết pháp, cúng linh (nếu có)

Thứ 3

7.00 pm - 8.30 pm: Lớp học Phật Pháp căn bản (theo lịch)

 Thứ 4

 7.00 pm - 8.30 pm : Khóa lễ tụng kinh và học phật pháp của người nói tiếng Anh.

 Thứ 5

8.00 pm - 9.00 pm: Khóa lễ trì tụng 21 biến thần chú Đại Bi

Tĩnh tâm niệm Phật hoặc Lễ Sám hối : Vào mỗi Chủ nhật đầu tháng

Thực Phẩm chay: Vào mỗi Chủ nhật cuối tháng

Muốn biết chi tiết các ngày lễ tại chùa

Xin liên lạc về Chùa tại 423 Davis Street,

Virginia Beach, VA 23462

Phone 757 - 689 - 3408

TRỰC TUYẾN

Hiện có 91 khách Trực tuyến