PHẬT THUYẾT PHÁP ẤN KINH

佛說法印經

Saddharma-mudrā sūtra

Ārya-dharma-mudra sūtraa
Phước Nguyên giới thiệu -dịch và chú
*******

PHẦN I/GIỚI THIỆU KINH PHÁP ẤN
1/Lịch sử truyền dịch Hán Tạng

Bản kinh Pháp Ấn này, tên đầy đủ là: Phật thuyết Pháp Ấn Kinh, đó là dẫn theo tên kinh trong bản dịch của Ngài Thí Hộ. Hiện tại, trong Đại Chánh Tân Tu Đại Tân Tu Đại Tạng Kinh có bốn bản dịch Kinh Pháp Ấn, có thể kể như sau:

1/ Đại Tạng Kinh 02, số 0104, tr. 0500b17: Phật thuyết Pháp Ấn Kinh 佛說法印經, bản dịch của Thi-Hộ, Tống.

2/Đại Tạng Kinh 02, số 0103, tr.0500a04: 佛說聖法印經  Phật thuyết Thánh Pháp Ấn kinh, bản dịch của Trúc Pháp Hộ, Tây Tấn.

3/Đại Tạng Kinh 15, số 0599, tr. 0157b07: 佛為海龍王說法印經Phật Vị Hải Long Vương Thuyết Pháp Ấn Kinh, Nghĩa Tịnh, Đường.

4/ Đại Tạng Kinh 02, số 0099, tr.0020a25: Tạp A-hàm 3, Kinh 80 (khuyết tên), Cầu-na-bạt-đà-la, Tống. TrongTạp A-hàm hội biên của Đại sư Ấn Thuận, đề tựa kinh này là Pháp Ấn.

2/Nhan đề Phạn ngữ: Kinh Pháp Ấn

Nguyên văn Phạn ngữ của Kinh Pháp Ấn, hiện không còn. Chúng ta có thể khôi phục đề kinh dựa vào những dữ liệu hiện có. Ở trong Phật thuyết Thánh Pháp Ấn kinh, Đại Tạng Kinh 02, số 0103, tr.0500a04, bản dịch của Trúc Pháp Hộ, Tây Tấn có đầu kinh có ghi: 天竺名阿遮曇摩文圖: Thiên trúc gọi là A-già-đàm-ma-văn-đồ, có lẽ là đây là đọc từ chữ Ārya-dharma-mudra của tiếng Phạn.

Tên kinh còn được gọi là Saddharma-mudrā sūtra: Chánh Pháp Ấn Kinh/Thánh Pháp Ấn Kinh/Diệu Pháp Ấn Kinh… Đó là sự phục hồi dựa trên tựa đề: 佛說聖法印經  Phật thuyết Thánh Pháp Ấn kinh,  Đại Tạng Kinh 02, số 0103, trang 0500a04, bản dịch của Trúc Pháp Hộ, Tây Tấn. Chữ Thánh ở đây, được hiểu do từ ngữ nguyên Sanskrit: Sad, mà động từ căn Sat: có nghĩa là đích thực, hiện thực, chính xác, vi diệu, thực tiễn, không thể nghĩ bàn.. Pháp, Sanskrit: dharma, thành lập từ động từ căn dhr: bảo toàn, duy trì, sắp xếp, làm cho hiện hữu, duy trì để hiện hữu v.v.. Mudrā: có nghĩa dấu ấn, khuôn dấu, con dấu, ấn tín, v.v..

Đề kinh Ārya-dharma-mudra sūtra, có từ Ārya hay Arya, tính từ, giống đực, hô cách số ít của thân arya: thánh, được hiểu là bậc Thánh. Nên từ đây tên kinh Ārya-dharma-mudra Sūtra: Kinh Dấu Ấn Pháp (của)Bậc Thánh, mà ngài Trúc Pháp Hộ đã phiên âm là 阿遮曇摩文圖: A-già-đàm-ma-văn-đồ.

Chữ Kinh[i], Phạn ngữ Sūtra, có nghĩa là quan hệ và thấu suốt. Hán chuyển âm Tu-đa-la và dịch là tuyến, gồm những sợi chỉ xâu lại với nhau, hoặc dịch là Khế Kinh.Tạng ngữ dịch là མདོ་སྡེ།, có nghĩa là bộ tập hợp các bài thuyết giảng (của đức Phật), có thể dịch từ này sang anh ngữ là sets of discourses, anh ngữ cũng dùng các từ tương đương như: sutra, the sutras. Sūtra, các Hán phần nhiều dịch là Kinh, một vài trường hợp xuất hiện trong kinh văn bản Phạn/Tạng/Hán dùng từ Dharmaparyāyaḥ  hay  ཆོས་ཀྱི་རྣམ་གྲངས། (Pháp Thoại, Pháp bản) để thay thế cho từ Sūtra - མདོ་སྡེ། (Kinh điển).

3. Vài nét về Pháp sư Thí Hộ, dịch giả Hán bản: Phật thuyết Kinh Pháp Ấn.

Có những tư liệu sau đây hiện tìm được, có ghi chép về Ngài Thí Hộ ở trong Đại chánh Tân Tu, và một tài liệu tìm được ở trong Tục Tạng cũng có chép về ngài Thí Hộ:

Thứ nhất, Tống Cao Tăng Truyện 宋高僧 傳, Đại Tạng Kinh 50, số 2061, trang 0712b26, mục 不空 傳 Bất Không truyện [Thi Hộ 施護]

Thứ hai, Tống Cao Tăng Truyện 宋高僧傳, Đại Tạng Kinh 50, số 2061, trang 0725a07, mục 滿月傳Mãn Nguyệt truyện [Thi Hộ 施護]

Thứ 3, Tục Tạng 77, số 1524, trang 0368c22, Bổ Tục Cao Tăng truyện 補續高僧傳, mục Thiên Tức Tai truyện 天 息灾傳 [Thi Hộ 施護]

Chúng ta, có thể lược ghi lại tiểu sử của ngài từ những nguồn tư liệu tham chiếu đã dẫn.

Tên của ngài Thí-Hộ 施護, tiếng Phạn là Dānapāla. Từ Sanskrit Dāna hay dānaṁ, phiên âm là Đàn-na 檀那, Đản-na 柁那, dịch là Thí  施. A-tỳ-đạt-ma Câu-xá, Phẩm Phân Nghiệp giải thích: “Kim idaṁ dānaṁ  nāma? Yadapi dīyate tad dānam” : Cái gì được gọi là Thí? Cái gì được cho cái đó gọi là Thí. Còn từ Pāla, tiếng Sanskrit có nghĩa là giúp đỡ, che chỡ, giữ gìn, bênh vệnh, bảo vệ. Như vậy, tên Dānapāla: hàm ý là sự bố thí (tài, pháp, vô úy), để giúp đỡ, che chở, nâng đỡ cho người khác. Ở đây, chưa tìm thấy trong kinh sử ghi lại tại sao ngài lại có tên Tiếng Phạn như vậy.

Ngài Thí Hộ sinh vào khoảng thế kỷ thứ X-XI, có lẽ là vào triều đại Bắc Tống,  
Tống Thái Tông, nhằm niên hiệu Thái Bình Hưng Quốc. Ngài sinh ra ở Bắc Ấn, xứ Udyāna (Ô-chấn-nẵng-quốc 烏塡曩國). Phổ thông, người đời thường gọi Ngài là Hiển Giáo Đại Sư 顯敎大師.

Năm thứ năm, niên tức năm 980, niên hiệu Thái Bình Hưng Quốc 太平興國,  đời vua Tống Thái Tông, Thí Hộ cùng với ngài Thiên Tức Tai 天息災, người Bắc Ấn, nước Ca-thấp-di-la 迦濕彌羅, sang vùng Biện Kinh 汴京, hay gọi là Khai Phong; đã lưu lại: Dịch Kinh Viện 譯經院, viện này thuộc Thái Bình Hưng Quốc Tự 太平興國寺; Hai ngài, cũng những vị Dịch Sư ở đây, đã dốc hết toàn lực cho việc phiên dịch kinh điển trong nhiều năm…

Số lượng Kinh điển dịch được theo Tống Cao Tăng truyện là 1230, chúng ta có thể ghi lại một số tác phẩm như sau:

Đại Tạng Kinh 1, số 0008, Đại Kiên Cố Bà-la-môn Duyên Khởi Kinh.

Đại Tạng Kinh 8, số 0242, Phật thuyết Biến Chiếu Bát-nhã Ba-la-mật Kinh.

Đại Tạng Kinh 8, số 0247, Phật thuyết Liễu Nghĩa Bát-nhã Ba-la-mật Kinh.

Đại Tạng Kinh 8, số 0248, Phật thuyết Ngũ Thập Tụng Thánh Bát-nhã Ba-la-mật Kinh.

Đại Tạng Kinh 8, số 0249, Phật Thuyết Đế Thích Bát-nhã Ba-la-mật Kinh.

Đại Tạng Kinh 8, số 0257, Phật Thuyết Thánh Phật Mẫu Bát-nhã Ba-la-mật Kinh.

Đại Tạng Kinh 20, số 1049, Thánh Lục Tự Tăng Thọ Đại Minh Đà-La-Ni Kinh.

Đại Tạng Kinh 20, số 1053, Thánh Quan Tự Tại Bồ Tát Công Đức Tán. V.v..

Số lượng kinh điển của Ngài Thí Hộ dịch, chúng ta cũng có thể dễ dàng tìm được ở trong Đại Tạng Kinh hiện có. Ngài Thí-Hộ tịch ở đâu, lúc nào, chưa thấy có tài liệu tin cậy nào ghi chép cụ thể.

*Một số tác phẩm Nhật-Hán nghiên cứu về Thí-Hộ

Ngoài ra, người viết hiện có những tác phẩm sau là luận văn, nghiên cứu về Ngài Thi-Hộ, hay có nghiên cứu, về đại dịch giả này:

ギーブルロルフ 1993 〈《大金 剛妙高山楼閣陀羅 尼》について〉, 《仏教学》35, trang 61-81.

中条賢海 1980 〈《秘密相経》所 説の五相成身観に ついて〉,《豊山 教学大会紀要》8 ,trang 11-20 (L).

二谷慈明 1981 〈宋代訳経僧「施 護」とその背景〉 ,《密教学会報》19/20 ,trang 66-70 .

伊藤教宣 1982 〈《広釈菩提心論 》の三句について 〉,《豊山教学大 会紀要》10,trang 27-39.

佐藤泰三 1966 〈守護大千国土経 の成立について〉 ,《密教文化》75 ,trang 1-13.

佐藤泰三 1966 〈守護大千国土経 の陀羅尼について 〉,《密教学会報 》5,trang 36- 39.

 呂澂 1982〈 施護〉,《中國佛 教》2.

大野法道 1933 〈小乗律として取 扱はれたる大乗戒 経〉,《浄土学》5 ,trang 400-411 .

山口益 1926 〈竜樹の六十頌如 理論について〉, 《仏教研究》23 ,trang 22-75 .

恵敏 1989〈 《月喩経》につい て〉,《仏教文化 》23,trang 19- 29 (L).

 月輪賢隆 1933 〈竜樹の《讃法界 頌》と《百千頌大 集経地蔵菩薩請問 法身讃》と西蔵文 ”Dharmadhatu- stotra” とに就いて〉,《 龍谷学報》307 ,trang 16-43 .

月輪賢隆 1933 〈竜樹の讃法界頌 と百千頌大集経地 蔵菩薩請問法身讃 と蔵文Dharmadhatustotra 〉,《龍谷学報》306 ,trang 121-146 .

月輪賢隆 1935 〈寶月童子所問經 に就て〉,《龍谷 學報》313,trang 1-37.

木村高尉 1981 〈聖五十頌般若波 羅蜜経〉,《勝又 俊教博士古稀記念 論集──大乗仏教 から密教へ》,東 京:春秋社.

 武内孝善 1976 〈施護伝考〉,《 印度学仏教学研究 》48,trang 280- 283.

瓜生津隆真 1981 〈《六十頌如理論 》におけるナーガ ールジュナの思想 〉,《仏教学》12 ,trang 1-24.

芳村修基 1968 〈広釈菩提心論の 思想体系〉,《仏 教学研究》25/26 ,trang 297-330 .

酒井真典 1988 〈菩提心離相論考 〉,《成田山仏教 研究所紀要》11 ,trang 89-139 .

酒井紫朗 1948 〈菩提心観釈と菩 提心離相論につい て〉,《密教文化 》4,trang 27- 38.

野口圭也 1986 〈Saṃpuṭodbhavatantra と《秘密相経》〉 ,《豊山学報》31 ,trang 39-63 (L).

陳又新 1993 〈漢、藏譯文對照 《六十頌如理論》 〉,《西藏研究論 文集》4,trang 147- 166.

青原令知 1987 〈《勝義空経》に ついて〉,《龍谷 大学大学院仏教学 研究室年報》3, trang 40-30 (L).

4/Một số vấn đề về nội dụng Kinh Pháp Ấn

        i.            Khái niệm Pháp ấn: (xem phần kinh văn ở sau)

Pháp ấn, Sanskrit: Dharma- mudrā.  Thành lập từ động từ căn dhr: bảo toàn, duy trì, sắp xếp, làm cho hiện hữu, duy trì để hiện hữu v.v.. Mudrā: có nghĩa dấu ấn, khuôn dấu.

Kinh Pháp ấn giải thích: tự Tánh Không, không có sở hữu, không có ấn tượng hư dối, không có sở sanh, không có sở diệt, thoát ly mọi tri kiến. Vì Tánh Không, không có xứ sở, không có sắc tướng, chẳng phải có ấn tượng, nó vốn không có sở sinh, không phải chỗ mà tri kiến có thể đạt tới, thoát ly mọi vướng mắc. Vì do thoát ly mọi vướng mắc, nên hết thảy pháp nó đều dung nhiếp, mà an trú tri kiến bình đẳng, tức là tri kiến chân thựcvậy. Tánh không là như vậy, các pháp cũng là như vậy. Cho nên, gọi là Pháp Ấn.

Pháp Ấn hay Thánh Pháp Ấn, tức là dấu ấu của của pháp, của pháp siêu việt, bất tư nghị; hay Thánh Pháp Ấn chính là khuôn dấu về Chính Pháp của bậc Thánh. Để phân định giữa chánh – tà giáo pháp, thì Dấu Ấn này có công năng hữu hiệu và chính xác tuyệt mức nên còn gọi Pháp Ấn hay Thánh Pháp Ấn.

      ii.            Pháp ấn và Ba giải thoát môn:

Kinh văn nói: “Pháp ấn này, chính là ba giải thoát môn, là pháp căn bản của chư Phật, là đôi mắt của chư Phật, đó tức là chỗ quy thúcủa chư Phật”.

Tam giải thoát môn 三解脫門, Phạn ngữ: trīṇi vimokṣamukhāni, phổ thông dịch là tam thoát môn 三脫門, tam môn 三門; Chúng ta có thể phân tích từ Sanskrit như sau:

Trīṇi: Tri hay ti là ba;

vimokṣamukhāni: có vimokṣa: tự do, giải thoát, không bị ràng buộc 

Môn 門 skt. mukhāni: Mukha là cửa ngõ, cánh cửa, chứ không phải Pháp môn 法門 mà Phạn ngữ của nó là từdharma-paryāya, còn gọi là Pháp bản, Pháp thoại v.v..

Luận Câu Xá, Bản Hán ghi rằng[ii]:

空謂空非我

無相謂滅四

無願謂餘十

諦行相相應

此通淨無漏

無漏三脫門

Tạm dịch: Không là hành tướng không, phi ngã; Vô tướng là bốn hành tướng của Diệt đế; Vô nguyện là mười hành tướng còn lại; Tất cả đều tương ưng với hành tướng của các đế; Thuộc loại tịnh hoặc vô lậu; Nếu vô lậu tức trở thành ba giải thoát môn.

Kinh Pháp Ấn, kể ba giải thoát môn lần lượt là: Không giải thoát môn, vô tưởng giải thoát môn, vô tác giải thoát môn.

    iii.            Tánh không

Kinh văn như đã dẫn ở trong phần i. Khái niệm pháp ấn. Ngữ nguyên Sanskrit: Śūnyatā, Pāli gọi là Suññatā;  thành lập do động từ căn Śvi, nghĩa là phồng lên (swell), Hán phiên âm là thuấn-nhã-đa 舜若多 và dịch là không Tánh 空性.

Tánh không, là giáo lý, đã được giảng dạy từ trong A-hàm và Nikāya. Đức Thế Tôn dạy: “…Nếu chúng Thánh đệ tử thuộc Thanh Văn của Như Lai, thì hãy quán chiếu năm thủ uẩn này, biết rõ nó không phải là tôi, không phải là của tôi. Các Ông quán chiếu như vậy thế rồi, các Ông biết rõ thế gian không có ai đuổi bắt, không có cái gì để bắt đuổi, và cũng không có cái đuổi bắt. Điều đó chỉ tự thân giác ngộ chứng đạt Niết Bàn. Việc sinh tử đã chấm dứt – Phạm hành đã lập vững – Điều cần làm đã làm xong – Không còn tái sinh nữa”[iii].

Kinh Tạp A Hàm, đức Phật cũng dạy: “Này các Tỷ kheo, có nghiệp báo mà không có tác giả. Có hành vi và kết quả của hành vi mà không có cái gọi là chủ thể. ”[iv]

Tiểu Không Kinh, đức Phật dạy: “Này Ananda, sau khi chứng đạt, ta sẽ an trú cứu cánh vô thượng không tánh. Như vậy, này Ananda, các ông cần phải học tập. ”[v]

Và Đại Không Kinh, đức Phật đã giải thích thế nào là “nội không”,  “ngoại không” và thế nào là “nội ngoại không” cho các các vị đệ tử nghe[vi].

Tánh Không ở đây, có nghĩa là Đương Thể Tức Không, nên Ngài An Tuệ, ở Đại Thừa Trung Quán Thích Luận 4, tạo kệ như sau:

Nhất thế bất ly không

Nhất thế đắc thành tựu[vii].

Tánh Không ở đây có nghĩa là: duyên khởi tức Không. Trung Luận XXIV.19, Long Thọ có kệ như vầy:apratītya samutpanno dharmaḥ kaścinna vidyate/ yasmāttasmādaśūnyo hi dharmaḥ kaścinna vidyate||19||: Chưa từng có bất cứ pháp nào không từ nhân duyên mà sinh. Thế nên hết thảy các pháp đều Không, nghĩa là không có tự tánh.

La-thập dịch Hán ngữ:

未曾有一法

不從因緣生

是故一切法

無不是空者

Chưa từng có Pháp nào

Không từ nhân duyên sinh

Cho nên tất cả Pháp

Tự tính đều là Không.

Tánh Không cũng được giải thích là: Đương sinh vô sinh tức Không. Nên Long Thọ tạo kệ trong Trung Quán Luận như sau:

Chư pháp bất tự sinh,

Diệc bất tùng tha sinh;

Bất cộng bất vô nhân,

Thị cố tri vô sinh.

Tạm dịch:

Vạn Pháp không tự sinh,

Không từ cái khác sinh;

Không phải đồng chung sinh,

Không phải vô nhân sinh,

Nên biết rằng, vô sinh.

Tánh Không, cũng hiểu là thực tướng tức Không. Kệ Trung Luận như sau:

Chư pháp thực tướng giả

Tâm hành ngôn ngữ đoạn

Vô sanh diệc vô diệt

Tịch diệt như Niết bàn.

Nghĩa là:

Thực tướng của các pháp

Dứt tâm hành, ngôn ngữ;

Không sanh cũng không diệt,

Vắng lặng như Niết bàn.

Tánh Không là nền tảng cho duyên khởi và các pháp duyên khởi từ đó mà hình thành, nên ở trong Trung Quán Luận, Ngài Long Thọ nói kệ:

“以 有  空  義  故

一 切  法  得  成

若 無  空  義  故

一 切  則  不  成

Dĩ hữu không nghĩa cố

Nhất thiết pháp đắc thành

Nhược vô không nghĩa cố

Nhất thiết tắc bất thành”[viii]

Dịch:

Vì do có Tánh Không này

Nên mọi pháp đều thành tựu.

Nếu không có Tánh Không này

Các pháp đều chẳng thể nào thành tựu.

Trong Tập Ưng Phẩm, phẩm ba, quyển một, Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa Kinh, Ngài Cưu Ma La Thập dịch Hán ngữ, đức Thế Tôn nói bảy không cho tôn giả Xá Lợi Phất.  Có thể tóm tắt như sau:

Tánh không = không của bản tánh.

Tự tướng không = không của tự tướng.

Chư pháp không = không của vạn hữu.

Vô sở đắc không = không của cái không thể đắc.

Vô pháp không = không của các pháp vô vi.

Hữu pháp không = không của các pháp hữu vi.

Vô pháp hữu pháp không = không của các pháp vô vi và hữu vi[ix].

Trong Đại Bát Nhã, Tương Ưng Phẩm, bản dịch Huyền Tráng. Đức Phật trình bày tương ưng và không tướng với 20 loại không gồm:

Nội không: tánh không của các pháp nội tại.

Ngoại không: tánh không của các pháp ngoại tại.

Nội ngoại không: tánh không của các pháp nội ngoại tại.

Không không: tánh không của cái không.

Đại không: tánh không của cái rộng lớn.

Thắng nghĩa không: tánh không của chân lý tuyệt đối.

Hữu vi không: tánh không của các pháp hữu vi.

Vô vi không: tánh không của các pháp vô vi.

Tất cánh không: tánh không của cái tối hậu.

Vô tế không: tánh không của cái không ngằn mé.

Tán không: tánh không của sự phân tán.

Vô biến dị không: tánh không của cái không biến dị.

Bản tánh không: tính không của bản tính.

Tự tướng không: tánh không của tự tướng.

Cọng tướng không: tánh không của cọng tướng.

Nhất thế pháp không: tánh không của hết thảy pháp.

Bất khả đắc không: tánh không của cái không thể ý niệm, không thể nắm bắt.

Vô tánh không: tánh không của cái vô thể.

Tự tánh không: tính không của tự tính.

Vô tánh tự tánh không: tánh không của vô tánh và tự tánh[x].

Khi nói về tính không sinh không diệt của vạn pháp, vua Trần Nhân Tông có một bài thơ rất nổi tiếng:

一 切  法  不  生

一 切  法  不  滅

若 能  如  是  解

諸 佛  常  現  前

Nhất thiết pháp bất sinh

Nhất thiết pháp bất diệt

Nhược năng như thị giải

Chư Phật thường hiện tiền.

Dịch:

Hết thảy pháp không sinh

Hết thảy pháp không diệt

Nếu thường hiểu như vậy,

Chư Phật ngay trước mắt.

Tóm lại, Tánh Không, được giảng ở trong kinh Pháp ấn, là tính không có sở hữu, tính không có ấn tượng hư dối, không có sở sanh, không có sở diệt, thoát ly mọi tri kiến. Vì Tánh Không đó, không có xứ sở, không có sắc tướng, chẳng phải có ấn tượng, nó vốn không có sở sinh, không phải chỗ mà tri kiến có thể đạt đến được, ly khai mọi vướng mắc. Do ly khai  mọi vướng mắc, nên hết thảy pháp nó đều dung nhiếp, mà an trú vào tri kiến bình đẳng, tri kiến đó được gọi là chân thực tri kiến.

    iv.            Ly chư hữu trước

Xa lìa mọi vướt mắc, Kinh Pháp Ấn gọi 離諸有著 Ly chư hữu trước, từ Sanskrit của nó là Na kvacit pratiṣṭhitena  hoặc  sarva pratiṣṭhitena- apagatā,  pratiṣṭhitaṁ : chấp trước, trú  ẩn, vướng mắc.

Đại Phương Quảng Tổng Trì Kinh[xi] có bài kệ như sau:

“無著行是菩薩行,

無我行是菩薩行,

空行是菩薩行,

無相行是菩薩行”:

Hành động không vướng mắc là hành động của Bồ-tát;

Hành động vô ngã là hành động của Bồ Tát;

Hành động theo Tánh Không là hành động của Bồ-tát;

Hành động vô tướng là hành động của Bồ-tát.

Trung A-hàm, Thích Trung Thiền Thất tôn kinh, Cù Đàm Tăng Già Đề Bà dịch Hán[xii]: Một hành giả tu tập tốt, tâm của vị ấy, không bị vướng mắc bởi năm uẩn thuộc về quá khứ, năm uẩn thuộc về hiện tại, năm uẩn thuộc về tương lai. Trong Kinh Lomasakangiyabhaddekaratta thuộc Majjhima Nikāya hay Kinh Bhaddekaratt văn hệ Pali cũng đề xuất ý nghĩa tương tự.

Và Kinh Kim Cương bộ kinh có thẩm quyền về vấn đề này, kinh chép: “Tasmāttarhi subhūte bodhisattvena mahāsattvena evamapratiṣṭhitaṁ cittamutpādayitavyaṁ yanna kvacitpratiṣṭhitaṁ cittam utpādayitavyam/na rūpapratiṣṭhitaṁ cittamutpādayitavyaṁ na śabdagandharasaspraṣṭavyadharm apratiṣṭhitaṁcittamutpādayitavyam”: Do vậy, này Subhūti! Với Bồ tát Đại sĩ, phải nên phát khởi  tâm vô trú, tức là phát khởi tâm không bị chấp mắc bởi bất cứ cái gì;  Hãy phát khởi tâm không bị chấp mắc bởi sắc, phát khởi tâm không bị chấp mắc bởi thanh, hương, vị xúc và pháp.

Đoạn này là một trong những đoạn cốt yếu nhất của Kim cang, Conze dịch: “Therefore then, Subhuti, the Bodhisattva, the great being, should produce an unsupported thought, i.e. a thought which is nowhere supported, a thought unsupported by sights, sounds, smells, tastes, touchables or mind-objects.”: Vì vậy, này Tu-bồ-đề! Bồ tát cần khởi sinh tâm không vướng chấp, đó là tâm không vướng chấp vào đâu bất kỳ đâu cả, tức là tâm không vướng chấp vào sắc, thanh, hương, vị, xúc và pháp. 

La Thập đã dịch Hán ngữ như sau:是故須菩提,諸菩薩摩訶薩應如是生清淨心,不應住 色生心,不應住 聲、香、味、觸、法生心,應無所住 而生其心[xiii]: Thế nên, này Tu-bồ-đề, các Bồ-tát đại sĩ nên như vậy mà sinh tâm thanh tịnh, không nên vướng mắc vào sắc sinh tâm, không nên vướng mắc vào thanh, hương, vị, xúc và pháp sinh tâm. Không nên có chỗ vướng mắc mà sinh ra tâm kia.

Thoát ly mọi vướng mắc, là đạt đến vô trú, vô trú là nhất pháp cho muôn pháp đồng quy, là nơi mà tất cả hành giả tu tập cần phải đạt đến trên con đường giác ngộ

      v.            Vô thường – Không- Khổ

Kinh văn nói: “Sắc là khổ, là không, là vô thường, nên sinh khởi sự nhàm chán và thoát ly chúng, mà an trú tri kiến bình đẳng…”

Khổ, Pāli. Dukkha, từ Sanskrit là Duhïkha; Tiền tố từ là dus, duh, nghĩa là xấu, ác, có nguy hiểm cho, có hại cho, khó chịu, đau buồn, phiền muộn, tai họa... Câu-xá: Khổ (duḥkha) bởi vì tánh của nó vốn là gian khổ (pīḍanātmakatvāt). Khổ là một trong trong bốn sự thật vững chắc, mà Thế-Tôn đã tuyên thuyết trong khi chuyển vận Pháp luân tại vườn Nai. Khổ được phân ra nhiều loại như: Tam khổ, bát khổ, v.v...

Vô thường 無常 Phạn ngữ là Anitya; nityatā, Pāli. Anicca. Có nghĩa là: chúng xuất hiện rồi biến mất. Những nhà Luận sư A-tì-đàm diễn giải thêm: cái gì vô thường, cái đó xuất hiện và biến mất trong từng sát-na. Nếu một pháp mà có thể tồn tại kéo dài trong hai sát-na, nó cũng có thể kéo dài thêm nhiều sát-na, và cũng có thể kéo dài vĩnh viễn.

Cho nên, nói vô thường, nên hiểu là sát-na vô thường. Câu-xá giải thích: Vô thường (anitya) bởi vì khi sinh tức phải phụ thuộc vào các nhân (pratyayādhīnatvāt = pratyayapratibaddhajanmatvāt).

Vô thường – Không – Khổ,  được rất nhiều kinh điển và các nhà luận sư gọi là “Ba Pháp Ấn”, có khi Ba Pháp Ấn này, cũng được kể là theo Đại Trí Độ: Nhất thiết chư hành vô thường ấn, Nhất Thiết chư Pháp vô ngã Ấn, và Niết bàn tịch tĩnh ấn, hoặc: Vô thường – vô ngã – không. Trong một số kinh triển khai thành bốn pháp ấn: Vô thường – khổ - không – và vô ngã v.v… vấn đề này đang còn được tranh luận dị biệt giữa rất nhiều các vị luận sư và các trường phái khác nhau[xiv].

    vi.            Không – vô tưởng – vô tác giải thoát môn và đẳng trì.

+Không giải thoát môn, 空解脫門, Phạn ngữ śūnyatavimokṣamukha.

Kinh văn Pháp Ấn: “Này các Tỷ kheo! Các uẩn vốn là Không tự Tánh, do tâm mà có sở sinh, khi tâm pháp diệt tận rồi, thì các uẩn không còn tác khởi.Thấu suốt rõ ràng như thế, tức là trực tiếp giải thoát, đã trực tiếp giải thoát rồi, thì thoát ly mọi tri kiến. Gọi là Không giải thoát môn.”

Câu-xá giải thích: “śūnyatādyālambanatvāttannām/ teṣāṃ punaḥ-- ālambete aśaikṣaṃ dvau śūnyatā cāpyanityataḥ/ aśaikṣaṃ samādhiṃ dvāvaparasamādhī ālambete/ śūnyatāśūnyate aśaikṣaṃ śūnyatāsamādhimālambate śūnyatākāreṇa: Không không đẳng trì xem không đẳng trì - vốn quán sát các pháp là không và vô ngã - như là không mà không phải là vô ngã, bởi vì sự quán sát về vô ngã (anātman) không gợi lên sự kinh sợ giống như sự quán sát về không (śūnya)[xv]. Câu-xá cũng nói:śūnyatālambanavimokṣamukhaṃ/aśubhālambanaśca alobho ’śubha iti/śūnyatetyucyate: Cũng giống như trường hợp gọi giải thoát môn (vimokṣamukha) là không (śūnya) bởi vì pháp này có sở duyên là không hoặc vô ngã, gọi vô tham (alobha) là bất tịnh (aśubhā) bởi vì pháp này có sở duyên là các pháp bất tịnh.[xvi]

+Vô tưởng giải thoát môn, 無想解脫門, từ Sanskrit là animittavimokṣamukha, Huyền Tráng dịch là Vô tướng giải thoát môn 無相解脫門.

Kinh Pháp Ấn: “Lại nữa, an trụ ở trong tam muội, quán chiếu các sắc cảnh, hết thảy chúng đều diệt tận, thoát ly mọi ấn tượng.Giống như thế, thanh, hương, vị, xúc và pháp, cũng đều diệt tận, thoát ly mọi ấn tượng; Quán sát như vậy, gọi là Vô tưởng giải thoát môn”

Giải thích của Kośa ix: ānimittānimittastu śāntato’saṅkhyayā kṣayam/ ānimittānimittastu samādhiraśaikṣasyānimittasyāpratisaṅkhyānirodhamālambate/ śāntākāreṇa; anāsravasya pratisaṅkhyānirodhābhāvāt/ na nirodhapraṇītaniḥsaraṇākāraiḥ; anityatānirodhasādhāraṇatvād, avyākṛtatvād, avisaṃyogāc ca: Vô tưởng vô tưởng đẳng trì duyên phi trạch diệt (asamkhyākṣaya) và xem nó là tĩnh (śānta). Có nghĩa là vô tưởng vô tưởng đẳng trì có sở duyên là phi trạch diệt (apratisaṃkhyānirodha) của vô tưởng đẳng trì, và quán sát diệt pháp (nirodha) này dưới hành tướng “tĩnh”. Nó không lấy trạch diệt (pratisaṃkhyānirodha) của vô nguyện đẳng trì làm sở duyên bởi vì đẳng trì này vốn thuộc vô lậu (anāsrava) và không thể có “trạch diệt” về những gì thuộc tánh vô lậu[xvii].

Nhập vào giải thoát môn này rồi, liền thành tựu được tri kiến thanh tịnh. Do vì có sự thanh tịnh đó, nên tham, sân và si hết thảy chúng đều diệt tận. Những thứ ấy, đã diệt tận rồi, thì liền an trú tri kiến bình đẳng.

+Vô tác giải thoát môn, 無作解脫門, Sanskrit. apraṇihitavimokṣamukha. Huyền Tráng dịch là 無願解脫門 vô nguyện giải thoát môn.

Kinh văn: Vì do nhân duyên, mà các Thức sinh khởi. Thì tức nhân duyên đó, cùng với sở sinh thức, hết thảy chúng đều vô thường. Do vì nó vô thường, cho nên Thức bất khả đắc. Thức uẩn đã không, thì không có chỗ tạo tác. Gọi là vô tác giải thoát môn

Giải thích Kośa ix: “apraṇihitāpraṇihito ’pyaśaikṣamapraṇihitamanityākāreṇa/na duḥkhato na hetvādito ’nāsravasyātallakṣaṇatvānna mārgākāraiḥ dūṣaṇīyatvāt”: Vô nguyên vô nguyện đẳng trì duyên vô nguyện đẳng trì của hàng vô học - tức loại đẳng trì vốn quán sát các sự vật dưới hành tướng vô thường, khổ, v.v. và xem loại đẳng trì này là vô thường. Vô nguyện vô nguyện đẳng trì không xem vô nguyện đẳng trì là khổ (duḥkha), cũng không phải là nhân, tập, duyên, sinh (hetu-samudaya-pratyaya-prabhava); bởi vì vô nguyện đẳng trì vốn thuộc vô lậu cho nên không phải là khổ, không phải là nhân: Cho dù vô nguyện đẳng trì là đạo (mārga) thì vô nguyện vô nguyện đẳng trì cũng không xem nó là đạo, như, hành, xuất (mārga-nyāya-pratipad-nairyāṇika) bởi vì mục đích hành giả theo đuổi là chán bỏ vô nguyện đẳng trì[xviii].

  vii.            Ngã kiến, ngã sở kiến

Ngã kiến, Phạn ngữ ātmadṛṣṭi. Thuật ngữ Ātman thuật ngữ quan trọng của Upanisad và Vedā, đi từ động từ căn van: hơi thở, hô hấp. Nên theo ngữ học này, thì Nirātman tức là không có thần ngã, tự ngã, linh hồn... có gốc rễ từ hơi thở hay hô hấp. 

Câu-xá  giải thích (rải rác): Người ngu (bāla) hay dị sinh (pṛthagjana) vì không hiểu được (apajānan) duyên khởi chỉ là các hành, tức là các pháp hữu vi (saṃskṛta), nên mới khởi ngã kiến (ātmadṛṣṭi)… Có luận sư cho rằng toàn bộ hữu thân kiến tạo thành đảo kiến về ngã (ātmaviparyāsa) chứ không phải chỉ có ngã kiến (ātmadṛṣṭi), tức bao hàm cả ngã sở kiến (ātmīyadṛṣṭi). .. ngã kiến có hai nhánh (dvimukhī) là kiến chấp về ngã và kiến chấp về những gì thuộc ngã (aḥmkāra, manakāra)… Ba loại mạn đầu tiên (ngã thắng mạn, ngã đẳng mạn, ngã liệt mạn) chính là các loại dựa vào ngã kiến… Nếu đã có ngã kiến (ātmadṛṣṭi) đối với ngũ thủ uẩn thì cũng sẽ có ngã ái (ātmatṛṣṇā) ) đối với ngũ thủ uẩn… sự sai lầm của ngã kiến không thể khởi dậy ở các thánh giả không thẩm lự bởi vì loại tà kiến này chỉ là một sản phẩm của sự suy đạc (saṃtīrakatvāt)….

Tỳ-bà-sa dẫn bởi Câu-xá: Vô ngã (anātmaka) bởi vì trái với ngã kiến (ātmadṛṣṭi).

Ngã sở kiến 我所見,  Phạn ngữ ātmīyadṛṣṭi, Câu xá: dẫn Tỳ-bà-sa, kinh còn nói: “Người nào cho rằng ngã có lực tự tại đối với ngũ thủ uẩn (upādānaskandhas) tức có ngã sở kiến”. Vì thế ngã sở kiến khác với ngã kiến vốn là nơi xuất phát của nó…

Luận sư Tỳ-bà-sa dẫn bởi Câu-xá: Không (śūnya) bởi vì trái với ngã sở kiến (ātmīyadṛṣṭivipakaṣa).

viii.            Kiến, văn, giác tri.

Kinh Pháp Ấn, nói: “đã thoát ly kiến về ngã rồi, tức không còn kiến, văn, giác và tri”. Kiến văn giác tri 見聞覺知, từ Sanskrit của nó là dṛṣṭa-śruta-mata-jñāta: thấy, nghe, cảm nhận, và nhận biết.

Kinh Duy-Ma Cật, Phẩm thứ nhất Nguyên nhân làm thanh tịnh quốc độ, Bản Phạn chép: “dharmo dṛṣṭaśrutamatavijñātannāsti; ye dṛṣṭaśrutamatavijñāte caranti te dṛṣṭaśrutamatavijñātakāmāḥ, na tu dharmakāmāḥ|”: Pháp không thể được thấy, được nghe, được cảm nhận, được nhận biết.Nếu hành nơi sự thấy, nghe, cảm, biết; đó chỉ là thấy, nghe, cảm, biết chứ chẳng phải tìm cầu pháp.

Thuyết Vô Cấu Xưng kinh sớ, mười hai quyển, Đại Tạng Kinh 38 No 1782, Đường, Khuy Cơ soạn, dẫn Đối pháp luận: Được tiếp nhận bởi mắt là thấy (kiến, dṛṣṭa ); bởi tai là nghe (văn, śruta); bởi tri giác tự nhiên mà biết như vậy như vậy là cảm nhận (giác, mata); nhận thức nội tại là nhận biết (tri, jñāta).

Đại trí độ 1, Long Thọ, Đại Tạng Kinh 25 có bài kệ như sau:

Chẳng kiến, văn, giác và tri

Cũng chẳng phải do trì giới

Chẳng không phải kiến văn

Chẳng không do trì giới

Luận như vậy bỏ hết

Cũng bỏ ngã, ngã sở

Không vướng kẹt các pháp tướng

Như vậy mới đắc đạo.

    ix.            Hiệu quả do tu tập theo Pháp bản Pháp Ấn Kinh

Thoát ly mọi vướng mắc.

Khả năng dung nhiếp hết thảy pháp.

An trú tri kiến bình đẳng, tức là tri kiến chân thực.

Nhàm chán và thoát ly năm thủ uẩn.

Tâm pháp diệt tận và các thủ uẩn không còn tác khởi.

Trực tiếp giải thoát, thoát ly mọi tri kiến.

Sáu cảnh đều diệt tận, thoát ly mọi ấn tượng.

Thành tựu được tri kiến thanh tịnh.

Tham, sân và si hết thảy chúng đều diệt tận.

Thoát ly kiến về ngã cùng với kiến về ngã sở.

Thấu suốt rõ ràng mọi kiến, không sở sinh, không có chỗ y chỉ.

Không còn kiến, văn, giác và tri.

Biết pháp cứu cánh, đối với Pháp không còn vướng mắc, và chứng pháp tịch diệt. V.v..

Đó là những hiệu quả thù thắng, vi diệu, do thọ trì, như thuyết tu hành theo bản Kinh Pháp Ấn này mang lại.

5/ Về Bản dịch Việt của Kinh và kết luận.

Bản dịch Việt, về cơ bản, y trên bản Hán, 佛說法印經 Phật thuyết Pháp Ấn Kinh, của Thí Hộ dịch, thuộc Đại 02, số 0104, trang 0500b17,

Văn bản tham chiếu chính là các Bản Hán dịch đã kể ở phần lịch sử truyền dịch Hán Tạng.

Nguyên văn Kinh, có đánh số trang theo Đại chánh, bản dịch Việt, y theo đây chua lại số trang của bản Hán vào bản dịch Việt, theo từng đoạn, trang, mà Kinh văn bản Hán đã phân định.

Nguyên văn bản Hán, nếu không có chú giải sẽ khó khăn cho việc tiếp cận. Cho nên, trong phần cước chú, bản dịch Việt sẽ chú giải những vấn đề cần thiết.

Tài liệu tham khảo để chú giải sẽ được ghi ở phần thư mục tham khảo.

Vì điều kiện thời gian của người viết chưa cho phép, người viết chưa thể làm được phần Tổng luận toàn bộ những vấn đề kinh văn. Tuy đây chỉ là một bản kinh ngắn, nhưng hàm chứa quá nhiều giáo lý thậm sâu, đặc biệt như: Tánh không, vô tưởng, vô nguyện, v.v… nên đòi hỏi sự công phu, tỉ mĩ mới có được bản luận tương đối khả dĩ như ý.

Nên người viết ghi lại một số vấn đề nhỏ về ý nghĩa của Kinh ở mục iv, cùng với những chú giải ở cước chú ở phần  kinh văn, tạm xem như gợi ý, để những vị nào có duyên với bản Kinh, có thể có cái nhìn sơ khởi về nội dung của Kinh. Trong điều kiện hiện tại, người viết chỉ có thể làm được như vậy, xin đê đầu kính lễ sám hối.

Vài dòng tiểu dẫn giới thiệu sơ sài, để nói lên một số vấn đề liên quan đến Kinh văn, cũng như bản dịch Việt. Cầu nguyện cho chúng sinh luôn khởi hành trên Bồ-tát thừa, đầy đủ Bồ-đề nguyện và Bồ-đề hành, để đi vào giải thoát môn, chứng pháp tịch diệt.

Tịnh Viên Thị Ngạn Am, Mùa An Cư 2559,

Phước Nguyên

CHÙA ĐÔNG HƯNG

NHẬT KÝ XÂY DỰNG

CÚNG DƯỜNG TAM BẢO

Cảm ơn quý vị đã cúng dường Chùa Đông Hưng Thank you for your donation.