Thơ

Vỡ tan bóng hình

vầng trăng trong nước

vẫn còn sơ nguyên.

                     ChôShu

Kudakete mo

kudakate mo ari

mizu no tsuki.

Đó ! trước mắt bạn là một bài thơ trong thể thơ độc đáo nhất thế giới – haiku -. Thật vậy, haiku không chỉ độc đáo vì nó chỉ có vỏn vẹn 17 âm tiết, hay có một kết cấu “tỉ lệ vàng” ( 5 – 7 – 5 ), mà quan trọng hơn hết là nó luôn gợi lên cho người đọc một cảm nhận sâu sắc với nhiều tầng ý nghĩa sâu kín củanó tùy theo khả năng cảm thụ của mỗi độc giả. Haiku được “nuôi lớn” bởi thiền sư Bashô ( lúc đầu ông không gọi thể thơ này là haiku mà là haikai hay hocku), nhưng nó không chỉ sống vỏn vẹn trong khuôn viên thiền viện với những triết lý uyên thâm, mà nó đã vượt ra khỏi bức thành thiền viện hội nhập với cuộc sống, đem lại cho đời những hương sắc mới. Thơ haiku là một bức tranh thiên nhiên sinh động, giàu màu sắc gợi cảm nhưng lại miêu tả rất ít. Đọc thơ haiku ta luôn bắt gặp rất nhiều hình ảnh, từ những sinh vật bé nhỏ đến những hình ảnh đẹp như hoa đào, mặt trăng. . . Ở bài viết này chỉ nói lên một vài cảm nhận của người viết về hình ảnh ánh trăng trong một số bài thơ haiku để thấy được nét độc đáo của haiku.

Nói đến haiku là nói đến rất nhiều điểm độc đáo, mà cái độc đáo nhất mà ít có thể thơ nào làm được là thơ phải đạt đến đỉnh cao của nó là chữ “đạo” (Haiku đạo). Có nghĩa là khi đọc một bài haiku là ta đang cảm thụ cái hay cái nghệ thuật, nhưng đồng thời ta còn đang được học cái đạo, nó hướng con người tới chỗ an lạc, giải thoát . . . Do đó, ở bài viết này không đi vào phân tích những đặc điểm hay những điều mà nhiều người vẫn thường nói về haiku, ở đây chỉ là sự cảm nhận của người viết khi đọc những bài haiku này. Có thể sự cảm nhận ấy không đúng với ý tác giả hay với những phân tích thường gặp. Vì khi đứng trước một bài thơ, mỗi chúng ta sẽ có những cảm nhận khác nhau sẽ có một “bài thơ” khác nhau, và chính điều này mới là nét đặc biệt của thơ nói chung và haiku nói riêng.

Thật vậy, ta hãy lắng nghe bài thơ:

Tên trộm đi rồi

bỏ quên nơi cửa sổ

một vầng trăng soi.

Ryôkhan

Chẳng mấy ai mà yêu quý ánh trăng đến như vậy. Ta khó mà hình dung được niềm hân hoan như thế nào khi nhà thơ được sống với vầng trăng ấy. Phải chăng đó chính là giây phút mà con người được trở về với tánh giác sáng suốt vốn có (Phật tánh) của mình ?, vì đó mới là vầng trăng cao quý nhất, sáng nhất. Do đó, dù tên trộm có lấy đi tất cả nhưng ta cũng chẳng mất gì, cái chúng có thể lấy là những tâm niệm xấu xa, những phiền não trói buộc, chứ đâu thể lấy vầng trăng của ta được.

Bởi vì ta đã quen sống với những xúc cảm đau khổ, tâm niệm phân biệt . . . Do đó, khi chợt nhận ra vầng trăng của mình Nagai đã thót lên:

Thế gian này

bao nhiêu là bóng

vầng trăng hôm nay.

Cái bóng luôn là bạn đồng hành của ta, cái bóng ấy chính là những vô minh đen tối thế mà ta lại nhận nó làm chính mình. Cho nên cứ bám víu lấy cái bóng này làm biết bao điều cho nó để rồi nó cũng chỉ là cái bóng mà thôi. Hôm nay nhờ ánh sáng của vầng trăng mà ta đã nhận ra cái bóng của mình.

Cũng là ánh trăng nhưng dường như ở đây Sodô đã xem trăng như chính cuộc đời của mình:

Tàn cuộc trăng rồi

bóng tôi quay bước

đi về với tôi.

Còn gì đọng lại sau một đời người, đó chính là cái bóng ( nghiệp của ta gây tạo). Tất cả danh vọng, địa vị, tiền tài . . . rồi ta cũng phải chia tay nhưng cái bóng này sẽ theo ta mãi mãi.

Và đây nữa:

Vầng trăng non dại

theo tôi từ độ ấy

ai có ngờ đêm nay!.

Bashô

Từ trước đến nay ta luôn có vầng trăng sáng trong chính mình. Vầng trăng ấy luôn trong ta nhưng vì quá nhiều mây đen đã che khuất làm cho nó không thể tỏa sáng được. Đêm nay, ta chợt nhận ra ta, chỉ kịp thót lên một tiếng a ! “ai có ngờ đêm nay”. Vầng trăng vốn có từ vô thỉ, ấy thế mà Issa lại hỏi:

Vậy là của ai

ôi những em bé

vầng trăng đỏ này.

Trăng không phải là của ai cả nhưng là của tất cả mọi người. Hyền thoại Phù Tang kể rằng ngày xưa có một cô bé tên là Kaguya – hime (nàng ánh trăng ) sinh ra từ một bụi trúc. Cô lớn lên thành một giai nhân. Nhưng cô từ chối mọi lời cầu hôn, kể cả Thiên hoàng. Rồi một đêm trăng sáng cô trở về quê hương mình: mặt trăng. Về với mặt trăng là quay về sống với chân tâm thường trú bản tánh tịnh minh vốn có của mình, đó chính là quê hương. Chân tâm ấy đều bình đẳng ở tất cả chúng sanh. Không hề có sự phân biệt giữa người cao quí với một cô “gái đêm”:

Mưa tuyết - không ai

gái đêm về ngủ

với vầng trăng phai.

Issa

Ít có ai có được cái nhìn đầy tính “như thị” đến như vậy. Có cái nhìn vô phân biệt này không phải là dễ làm. Cô gái ấy dù có là gì đi nữa, nhưng đến một lúc nào đó cô tĩnh ngộ thì cũng trở lại sống với vầng trăng của mình, và khi ấy giữa cô và một vị “thiền sư” nào có khác gì. Nhưng vầng trăng ấy có bao giờ biến mất không:

Vầng trăng tan nhanh

giọt mưa còn đọng

đó đây trên cành.

Bashô

Mỗi giọt mưa dù rất nhỏ nhưng nó vẫn phản ánh một vầng trăng. Trăng thì chỉ có một nhưng chiếu xuống biết bao nhiêu là bóng. Ở đâu có nước là ở đó có trăng: “thiên giang hữu thủy thiên giang nguyệt”. Chỉ tùy thuộc vào nước trong hay đục thì trăng sẽ tỏ hay mờ mà thôi:

Vỡ tan bóng hình

Vầng trăng trong nước

Vẫn còn nguyên sơ.

Chôshu

Vầng trăng trong nước có lẽ là hình ảnh đẹp nhất vì nó luôn nửa thực nủa hư. Dù khi nước bị khuấy động thì ánh trăng sẽ tan biến, nhưng điều đó không phải là trăng đã mất. Khác gì chúng ta đôi khi chợt tĩnh ngộ, trở về sống chân tâm nhưng rồi lại bị vọng tâm lôi kéo, ấy thế chứ đâu phải chân tâm lại không còn. Khi nào nước hết động, nước trong thì lúc đó ánh trăng lại hiện lên. Trong kinh Samyutta Nikaya Đức Phật dạy: “người ta nói trăng khuyết trăng đầy, nhưng trăng vẫn nguyên sơ, không hề tăng, không hề giảm”.

Cái đạo trong thơ Haiku là như vậy, dù mỗi người sẽ có sự cảm nhận khác nhau nhưng điều đó không làm cho nó trở nên mâu thuẫn mà nó chỉ càng tỏ ra cái nét đặc biệt của haiku mà thôi. Ánh trăng luôn là hình ảnh đẹp trong thơ và khi đến với haiku nó lại được khoát lên mình một cái áo mới, ánh trăng tức là bản tâm của con người. Trong Nguyệt dụ kinh Đức Thế Tôn nói như thế này: “ta hãy học theo vầng trăng. Trăng không hề vướng mắt điều chi. Trăng có không gian vô tận, nên trăng tuyệt đẹp và thong dong”. Haiku luôn nói nhiều về thiên nhiên nhưng điều đó không phải là haiku chỉ quan tâm đến thiên nhiên. “Haiku quan tâm đến mối xúc cảm của con người nhiều hơn là hành động của họ, và hiện tượng thiên nhiên là dùng để phản ảnh những mối xúc cảm của con người”.

Xin mượn bài thơ của thầy Nhật Chiêu để thay lời kết:

Vầng trăng từ độ sơ nguyên

Cõi không trãi sóng, một thuyền lãng du

Người về chân bước như như

Trái tim bóng tối bỗng từ từ trăng.

 TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Nguyệt san Giác ngộ, số 54, tháng 9 năm 2000
  2. Nguyệt san Giác ngộ, số 58, tháng 1 năm 2001
  3. Nguyễn Tuấn Khanh, Cấu trúc nghệ thuật trong thơ haiku, Tạp chí văn học, số 10 năm 1999

Chúc Độ - Phạm Văn Đức - 2001

CHÙA ĐÔNG HƯNG

NHẬT KÝ XÂY DỰNG

CÚNG DƯỜNG TAM BẢO

Cảm ơn quý vị đã cúng dường Chùa Đông Hưng Thank you for your donation.